vanban.org

Quyết định 84/2026/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về hôn nhân: Ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Quốc D - Lê Thị Ph"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 84/2026/QĐST-VHNGĐThành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân

và Gia đình;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 214/2026/TLST-VHNGĐ

ngày 15 tháng 4 năm 2026 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Ông Phạm Quốc D, sinh ngày 20/3/1988, số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp

ngày 28/12/2021

HKTT: Tổ I, ấp E, xã P, tỉnh Đồng Nai

Nơi ở hiện nay: Tổ E, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Lê Thị P, sinh ngày 20/6/1990, số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày

02/7/2021

Địa chỉ: Tổ E, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và

đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 13, quyển số 01/2011 ngày 24/02/2011, nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Tại biên bản hòa giải đoàn tụ không thành ngày 20 tháng 4 năm 2026, ông

D và bà P xác nhận: Mâu thuẫn vợ chồng đến nay đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân gia đình thì việc ông D và bà P thuận tình ly hôn là hoàn toàn có căn cứ.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị

P có 03 con chung tên Phạm Lê Hoài T, sinh ngày 18/11/2012, Phạm Lê Thu G, sinh ngày 31/7/2016 và Phạm Nguyên C, sinh ngày 15/11/2018.

Sau ly hôn, ông bà thỏa thuận giao cháu T và cháu C cho bà Lê Thị P và

giao cháu G cho ông Phạm Quốc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Ông Phạm Quốc D cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.500.000đ (một triệu năm

trăm nghìn đồng)/tháng/con, hai con số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng)/tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Bà P không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy thỏa thuận trên của đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp

với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí việc hôn nhân: Ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P mỗi người

phải chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không

thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về hôn nhân: Ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị P có 03 con chung tên

Phạm Lê Hoài T, sinh ngày 18/11/2012, Phạm Lê Thu G, sinh ngày 31/7/2016 và Phạm Nguyên C, sinh ngày 15/11/2018.

Sau ly hôn, ông bà thỏa thuận giao cháu Phạm Lê Hoài T và cháu Phạm

Nguyên C cho bà Lê Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); giao cháu Phạm Lê Thu G cho ông Phạm Quốc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Ông Phạm Quốc D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.500.000đ (một

triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng/con, hai con số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng)/tháng kể từ tháng 4/2026 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Bà P không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm

nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung, mức cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp

nuôi con được thực hiện theo quy định của pháp luật.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

3. Về lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Quốc D và bà Lê Thị

P mỗi người phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng); được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 22846 ngày 13/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông D và bà P đã nộp xong.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và

không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ