- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh N, sinh ngày 07/7/1977, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 84/2017/QĐ-TA QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƢA VÀO | Thái Bình, ngày 22 tháng 12 năm 2017 |
CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái.
2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Tiến Thành.
Ngày 22/12/2017, tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội thành phố T, tỉnh Thái Bình tiến hành phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 77/QĐ-TA ngày 14/12/2017 đối với:
Họ và tên: Bùi Minh N; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/7/1977
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12.
ĐKHKTT: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Lang thang (không có nơi cư trú ổn định).
Con ông: Bùi Minh D, sinh năm 1945; Con bà: Liêu Thị M, sinh năm 1947.
Tiền án, tiền sự: Có 01 tiền án.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Ngọc Nam – Phó trưởng phòng
Lao động - Thương binh và xã hội - UBND thành phố T.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình: Bà Trương Thị
Huyền – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Ngày 21/11/2017, Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình lập biên bản vi phạm hành chính đối với Bùi Minh N, sinh ngày 07/7/1977, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vì vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/11/2017, Bùi Minh N đã sử dụng trái phép chất ma túy và đi lang thang tại khu vực tổ 21, phường H, thành phố T thì bị tổ công tác của Công an thành phố T kiểm tra, N không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên tổ công tác đã đưa N về trụ sở công an thành phố T để làm việc. Tại cơ quan Công an, N khai nhận bản thân nghiện ma túy từ năm 2016, loại ma túy N sử dụng là Hêrôin, 01 ngày sử dụng 01 lần bằng hình thức hít. Lần sử dụng gần nhất là vào 13 giờ 30 phút ngày 21/11/2017, N chưa cai nghiện tại gia đình, hiện tại N không tham gia bất cứ chương trình cai nghiện nào.
Tại Phiếu trả lời kết quả xác minh tình trạng nghiện ma túy ngày 21/11/2017, Trạm y tế phường K, thành phố T xác định Bùi Minh N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Hêrôin.
Quá trình xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Bùi Minh N là đối tượng không có việc làm ổn định, không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Hiện Bùi Minh N đang được quản lý lưu trú tạm thời tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T theo Quyết định số 27/QĐ-CATP ngày 21/11/2017 của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố T, tỉnh Thái Bình đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh N tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Tại phiên họp, Bùi Minh N trình bày: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/11/2017, N đã sử dụng hêrôin bằng hình thức hít, 01 ngày N sử dụng 01 lần.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình căn cứ vào các Điều 95; 96; 105; 110 Luật xử lý vi phạm hành chính quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Minh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T, tỉnh Thái Bình với thời hạn từ 15 đến 18 tháng.
XÉT THẤY:
- Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh N đã được Công an thành phố T thu thập tài liệu, xác minh, lập hồ sơ đầy đủ, hồ sơ đó được Trưởng phòng Tư pháp thành phố T kiểm tra tính pháp lý và Trưởng phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố T có văn bản đề nghị về việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình. Hồ sơ đề nghị là hợp pháp theo đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 03; 08; 09; 10; 11; 12; 13; 14 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Minh N xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy trong xã hội. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân nên N đã mắc nghiện ma túy từ năm 2016.
Tòa án xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tác động rất xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội noi chung, của người nghiện ma túy nói riêng. Ma túy làm suy thoái đạo đức, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, trí tuệ, thể chất của con người, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính bằng cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh N là cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật như đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố t và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình.
Căn cứ vào các Điều 95; 96; 105; 110 Luật xử lý vi phạm hành chính, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh N.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh N, sinh ngày 07/7/1977, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc 21/11/2017.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị đối với Quyết định:
- Bùi Minh N có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày 22/12/2017.
- Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố T có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày 22/12/2017.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố T phối hợp với Công an thành phố T đưa Bùi Minh N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T, tỉnh Thái Bình.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Bình; - Phòng LĐTB&XH TPT; - Người bị áp dụng; - Trung tâm CBGDLĐXHTPT; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Hồng Thái |