- Tranh chấp gì? "NGUYỄN ĐỨC T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T (nam), sinh năm 1993 - cư ngụ khu vực P, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 83/QĐ-TA | Thốt Nốt, ngày 25 tháng 9 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với!thành!phần!tiến!hành!phiên!họp:!
1/ Thẩm"phán: Ông Nguyễn!Thanh!Điền
2/ Thư"ký"phiên"họp: Bà Nguyễn!Thị!Nhàn
Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 81/QĐ-TA ngày 12 tháng 9 năm 2018, đối với:
Họ và tên: NGUYỄN ĐỨC T, giới tính: nam, sinh năm 1993
Dân tộc:"kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12.
Nguyên quán: khu vực P, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.
HKTT: khu vực P, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện tại: khu vực P, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.
Tiền án, tiền sự: không.
Con ông Nguyễn Văn P (1970) và bà Võ Thị Mộng U (1973).
(vắng"mặt"tại"phiên"họp)"
Có sự tham gia của:
1. Đại"diện"cơ"quan"đề"nghị"(Phòng"Lao"động"thương"binh"và"xã"hội"quận" T): Ông Phan!Thanh!Liêm – Phó phòng
"
"
(có"mặt)"
2."Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"quận"T: Ông Hồng!Quốc!Vệ - Kiểm sát viên.
(có"mặt)
NHẬN THẤY:"
Nguyễn Đức T là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 17.3.2017, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường. Ngày 08.8.2017, T chấp hành xong. Sau đó, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được xét nghiệm vào ngày 09.8.2018 với kết quả “dương tính”, tức là có sử dụng ma túy.
Trên cơ sở chứng cứ đã thu thập, thấy có đủ cơ sở nên cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Đức T đi cai nghiện bắt buộc. Từ đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T ban hành Văn bản số 157/LĐTBXH ngày 10.9.2018 đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Tại"phiên"họp,
Đại"diện"Phòng"Lao"động"Thương"binh"và"Xã"hội"quận"T"đề"nghị:"
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội được nêu tại điều 13 của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30.12.2013 của Chính Phủ.
Trên cơ sở kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đã được Phòng Tư pháp quận T thẩm định về mặt pháp lý, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động - Xã hội và Quản lý sau cai nghiện thành phố Cần Thơ (Địa chỉ: ấp X, xã Y thị xã Q, tỉnh Hậu Giang) đối với Nguyễn Đức T (lý lịch nêu trên) với thời gian là 15 tháng.
Ý"kiến"của"đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"quận"T:
- Đối với Tòa án: Đã tuân thủ đúng trình tự quy định theo Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Đối với việc lập hồ sơ đề nghị: Đã đảm bảo tính pháp lý về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Vì vậy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T đề nghị đưa Nguyễn Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng là phù hợp.
Người"bị"đề"nghị"Nguyễn"Đức"T"vắng"mặt"tại"phiên"họp.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T có trụ sở trên địa bàn quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T theo quy định tại Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và điều 3 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính và lập biên bản theo quy định đối với Nguyễn Đức T cho đến khi hồ sơ được chuyển sang Tòa án, các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tại các điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, điều 8-13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013, các khoản 1-3 điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ.
Về sự vắng mặt của người bị đề nghị Nguyễn Đức T"không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp là phù hợp.
Tại biên bản ghi lời khai, T thừa nhận: đã nhiều lần sử dụng ma túy, lần gần nhất là ngày 08.8.2018 trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại phường N, bản thân vẫn sử dụng ma túy.
Theo hồ sơ thể hiện: T nghiện và bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017, lần gần nhất là ngày 08.8.2018 trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại phường (do đang nghiện ma túy) theo Quyết định số: 283/QĐ-UBND ngày 08.5.2017 của Ủy ban nhân dân phường N với thời hạn là 03 tháng (từ ngày 08.5.2017 đến ngày 08.8.2017), nhưng T vẫn tiếp tục sử dụng ma túy - được tiến hành thử nước tiểu bằng thanh thử Test vào ngày 09.8.2018 với kết quả xét nghiệm “dương tính”, tức là “có sử dụng ma túy”.
Xét hồ sơ đề nghị, nhận thấy gồm: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị, các biên bản xét nghiệm chất ma túy vào các ngày 18.3.2017 và ngày 09.8.2018 đã được Trạm y tế phường N xác định kết quả xét nghiệm, Biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép, Tờ tường trình của Nguyễn Đức T, Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trưởng Công an phường N.
Như vậy, việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T đảm bảo tính pháp lý theo quy định tại điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Chương 2 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30.12.2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét thấy: Nguyễn Đức T là người đã thành niên nghiện ma túy. T đã được chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhỡ, giáo dục, giúp đỡ, được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn để khắc phục việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng T vẫn không chấp hành tốt biện pháp cai nghiện. Từ đó cho thấy, ý thức tự cai nghiện tại cộng đồng đối với T là không khả thi. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn như đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T để T được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc tạo điều kiện tốt khi hòa nhập cộng đồng là cần thiết và phù hợp với quy định tại điều 95 và điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 16 điều 1 Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 29-6-2016 và khoản 1 điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ.
Trường hợp người bị đề nghị chấp hành tốt và có hiệu quả tích cực sẽ được giảm thời hạn theo quy định tại điều 112 Luật xử lý vi phạm hành chính và điều 27 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Do đó, đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T và ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Vì"các"lẽ"trên,
- Căn cứ vào điều 95, 96 và khoản 2 điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ vào khoản 1 điều 3 và Điều 20 và Điều 31 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20.01.20164 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T (nam), sinh năm 1993 - cư ngụ khu vực P, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15"(mười"lăm)"tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận T có quyền kháng nghị; Nguyễn Đức T (có lý lịch nêu trên) có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T và Công an quận T. Nơi!nhận:
Thẩm phán
- Người bị áp dụng;
- Trưởng Công an quận T;
- Trưởng phòng LĐTBXH quận T;
- Ủy ban nhân dân phường (nơi cư trú);
- VKSND quận T;
- Trung tâm;
- Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn!Thanh!Điền