vanban.org

Quyết định 82/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị P được ly hôn với ông Nguyễn Văn Út S. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/02/2007 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06/9/2023
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái

- Các Hội thẩm Nhân dân:

1.

Bà Ngô Thị Út Hậu

2.

Ông Bùi Quang Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân – Thư ký Tòa án Nhân dân quận Ô Môn.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 180/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST-HN ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Mai Thị P, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Khu vực Thới Hoà B, phường Long Hưng, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ.

- Bị đơn: ông Nguyễn Văn Út S, sinh năm 1973 (vắng mặt, có đơn)

Địa chỉ: Khu vực Thới Hoà B, phường Long Hưng, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo Đơn khởi kiện ngày 30/05/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Mai Thị P trình bày: Giữa bà và ông Nguyễn Văn Út S tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thới Long, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm gần đây thường xuyên mâu thuẫn, cải nhau, nguyên nhân chủ yếu là do ông S không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên uống rượu, mắng chửi bà, còn có hành vi cờ bạc gây nợ nần. Vợ chồng đã cố gắn khuyên ngăn, hàn gắn nhưng không có kết quả. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Út S. Quá trình chung sống không có tài sản chung và không có nợ chung. Về con chung có 01 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/02/2007, bà P yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông S cấp dưỡng.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn Út S trình bày: Thống nhất quan hệ hôn nhân như bà P trình bày, vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẩn như bà P trình bày là có nhưng ông không thống nhất ly hôn với bà P, mong muốn hàn gắn, đoàn tụ với vợ. Nếu phải ly hôn thì ông thống nhất giao cháu T cho bà P nuôi dưỡng, ông không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc được ly hôn với ông Nguyễn Văn Út S. Yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/02/2007, không yêu cầu ông S cấp dưỡng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Út S vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện ý kiến đối với vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật bên tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Út S. Giữa bà Mai Thị P và ông Nguyễn Văn Út S chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình nên xem là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Long Hưng, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án bà P trình bày sau khi đăng ký kết hôn, bà và ông Nguyễn Văn Út S chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, chủ yếu do ông Nguyễn Văn Út S không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 17; Điều 19; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng theo lời trình bày của bà P thì nguyên nhân mâu thuẩn là do ông S không lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên uống rượu, từ nhiều năm nay ông S làm tạo thu nhập nhưng không đóng góp cho cuộc sống chung của vợ chồng, vợ chồng không còn tình cảm, quan tâm lẫn nhau.

Kể từ khi bà P nộp đơn ly hôn đến nay, ông S thể hiện nguyện vọng muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng sau khi toà án hoà giải, động viên ngày 15/8/2023 đến nay vẫn không thay đổi. Bà P vẫn giữ nguyên ý định ly hôn, cho thấy bà P đã không còn tình cảm và không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân với ông S.

Do đó cho thấy tình trạng vợ chồng giữa bà P và ông Nguyễn Văn Út S đã rạn nứt, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục cũng không mang lại hạnh phúc cho bà P và ông Nguyễn Văn Út S. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Mai Thị P.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Xét con chung đang ở cùng với bà P, nguyện vọng của cháu T cũng muốn sống cùng bà P nên hội đồng xét xử thống nhất giao cháu T cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng.

Về án phí: Áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn bà Mai Thị P phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị P.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị P được ly hôn với ông Nguyễn Văn Út S.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/02/2007 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng.

Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bà P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Mai Thị P cho rằng không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Mai Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003636 ngày 01/06/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, TP. Cần Thơ thành án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định) để yêu cầu Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

* Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

Cỡ chữ