- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 816/2023/QĐST-HNGĐ | Quận Hai Bà Trưng, ngày 11 tháng 12 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm h khoản 2 Điều 39,
Điều 149, Điều 397, Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 762 /2023/TLST-VHNGĐ
ngày 01/12/2023 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn của những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Anh Nguyễn Trọng T; sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: B1106B
229 phố T, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Phòng 2415 T18 Khu đô thị A, 458 đường K, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.
- Chị Phạm Kiều L; sinh năm 1998; hộ khẩu thường trú: số 2 ngõ 2 phố
M, phường B, quận Y, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Phòng 2415 T18 Khu đô thị A, 458 đường K, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Nguyễn Trọng T và chị Phạm Kiều L kết hôn với nhau trên cơ sở tự
nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 17/3/2020 tại Uỷ ban nhân dân phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn, anh chị đều chưa kết hôn lần nào. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ: Phòng 2415 T18 Khu đô thị A, 458 đường K, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống tới đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không phù hợp về tính cách, quan điểm và lối sống, dẫn đến vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng. Mặc dù anh chị đã cố gắng hàn gắn và được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vẫn không thể khắc phục được. Nay anh T và chị L cùng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng có đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho anh chị thuận tình ly hôn.
Quá trình giải quyết yêu cầu của anh T và chị L, Toà án đã tiến hành hoà
giải để vợ chồng đoàn tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân gia đình. Tuy nhiên anh T và chị L không đồng ý đoàn tụ, hai bên thuận tình ly hôn và đã thoả thuận với nhau về các nội dung: tài sản, vay nợ, về con và nghĩa vụ chịu lệ phí giải quyết việc dân sự như được ghi nhận tại Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 01/12/2023.
Xét thấy việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của anh T và chị L tại Biên
bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 01/12/2023 là hoàn toàn tự nguyện, bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể
như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng T và chị Phạm Kiều L
cùng xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng thuận tình ly hôn.
1.2. Về con chung: Anh Nguyễn Trọng T và chị Phạm Kiều L cùng xác
nhận có một con chung tên là: Nguyễn Diêu P, sinh ngày 01/4/2019, giới tính nam. Anh chị thỏa thuận sau khi ly hôn, anh Nguyễn Trọng T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Trọng T và chị Phạm Kiều L
xác nhận tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Toà án không xét.
Sau khi ly hôn, chị Phạm Kiều L có quyền và nghĩa vụ thăm nom và
chăm sóc con chung, mà không ai được cản trở.
1.3. Về tài sản chung (bao gồm động sản và bất động sản): Anh Nguyễn
Trọng T và chị Phạm Kiều L cùng xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xét.
1.4. Về vay nợ chung: Anh Nguyễn Trọng T và chị Phạm Kiều L cùng
xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xét.
1.5. Về lệ phí: Anh Nguyễn Trọng T và chị Phạm Kiều L thoả thuận anh
T là người chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 003129 ngày 01/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. * Nơi nhận:
| - Đương sự; - VKSND quận Hai Bà Trưng; - UBND phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa (Số 17, ngày 17/3/2020); - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN (Đã kí) Nguyễn Thị Phương Thủy |