vanban.org

Quyết định 81/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (17/9/2020) để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3/ Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Hữu Đ"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Số: 81/QĐ – TA
Thủ Dầu Một, ngày 17 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Minh Đạo.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hiếu.

Ngày 17 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 92/QĐ - TA ngày 11 tháng 12 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Lê Hữu Đ.

Giới tính: Nam.

Sinh ngày 20/8/1993.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 7/12

Nguyên quán: Quảng Bình.

Hộ khẩu thường trú: Số x ấp TT, xã TM, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Lê Hữu P (đã chết) và bà Nguyễn Thị D.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy V – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M.

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Ông Lê Văn Cẩn – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ do Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M chuyển đến thể hiện:

Ngày 17/9/2020, Công an phường PH, thành phố M, tỉnh Bình Dương phát hiện Lê Hữu Đ sử dụng trái phép chất ma tuý và lập biên bản vi phạm hành chính. Căn cứ phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17/9/2020 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện: Lê Hữu Đ có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, Chủ tịch UBND phường PH đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đưa Lê Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao Lê Hữu Đ cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương quản lý.

Ngày 05/10/2020, UBND phường PH đã ban hành Thông báo số 23/TB - CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã được giao cho Lê Hữu Đ.

Ngày 09/12/2020, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M đã ban hành văn bản số 643/LĐ.TBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M phát biểu quan điểm: Lê Hữu Đ đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do Lê Hữu Đ đã thành niên, không có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Toà án đưa Lê Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ đúng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các qui định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Lê Hữu Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Bản thân Lê Hữu Đ đã thành niên, không có nơi cư trú ổn định nên việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội.

Người bị đề nghị trình bày: Lê Hữu Đ thừa nhận có sử dụng ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Lê Hữu Đ không có ý kiến gì về việc lập hồ sơ và đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M.

XÉT THẤY:

Do Lê Hữu Đ đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an phường PH lập biên bản vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của Công an phường PH đối với Lê Hữu Đ là phù hợp theo Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, được hướng dẫn tại Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Theo phiếu trả lời kết quả ngày 17/9/2020 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện Lê Hữu Đ có nghiện ma tuý, loại ma tuý là Methamphetamine. Lê Hữu Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là ngày 17/9/2020 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa Lê Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo qui định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính, được hướng dẫn tại Điều 4 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Theo hồ sơ thể hiện Lê Hữu Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Số x ấp TT, xã TM, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên, tại bản xác minh tình trạng cư trú ngày 30/9/2020 đã xác định Lê Hữu Đ không có nơi cư trú ổn định trên địa bàn. Theo quy định tại Điều 2 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ có căn cứ xác định Lê Hữu Đ không có nơi cư trú ổn định. Chủ tịch UBND phường PH quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ là phù hợp theo qui định tại Điểm b Khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ là phù hợp theo qui định tại Điều 95, 96 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP. Hồ sơ đã được Trưởng phòng tư pháp kiểm tra và xác định hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý, theo qui định tại Điều 12 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Hữu Đ xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tội phạm hình sự khác. Do đó, cần thiết phải đưa Lê Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp Lê Hữu Đ trở thành người tốt và có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Người vi phạm thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ trong thời gian 12 tháng đến 15 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (17/9/2020) để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định được công bố.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ