- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-ST Ngày 08-02-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình
Bà Lê Thị Chanh
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Nga - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lý Hoàng Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại Nhà tạm giữ Công an huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2021/TLST-HS ngày 29/01/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2021/QĐXXST- HS ngày 29/01/2021 đối với bị cáo:
Lù A C (A), sinh năm 1970 tại huy n B, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã C, huy n B, tỉnh Sơn La; nghề nghi p: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lù A L và bà Hạng T (đều đã chết); bị cáo có vợ là Vừ Thị D, sinh năm 1969 và 06 con; tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân: Ngày 22/9/2011, TAND huy n Bắc Yên áp dụng Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, Điều 99 BLTTHS xử phạt Lù A C 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2014, chấp hành xong án phí HSST 200.000 đồng ngày 26/3/2013 (Đã được xóa án tích).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2020 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13h50’ ngày 18/12/2020, tổ công tác Công an huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La làm nhi m vụ tại tiểu khu P, thị trấn N, huy n M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lù A C đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hi n Lù A C đang cầm trong tay phải 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng cục chất bột màu trắng, nghi là Heroine. C khai nhận đó là gói Heroine, Chống mua về để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Lù A C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Lù A C đến cho Cơ quan CSĐT Công an huy n Mộc Châu đề điều tra, làm rõ.
Ngày 18/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Lù A C (A) được 0,28 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hi u C.
Tại kết luận giám định số 58 ngày 22/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,28 gam, tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,28 gam, loại Heroine”. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu “C”, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là 0,17gam.
Quá trình điều tra, Lù A C khai nhận: Lù A C đang đi tìm vi c làm thuê ở thị trấn N, huy n M. Do nghi n ma túy, vào khoảng 13h00’ ngày 18/12/2020, C đi bộ để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc tiểu khu P, thị trấn N, huy n M, Lù A C gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi Chống đã mua được của người phụ nữ đó 01 gói Heroine với giá 100.000đ và cất giấu ở lòng bàn tay phải rồi rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi C vừa đi được một đoạn thì gặp tổ công tác Công an huy n Mộc Châu kiểm tra phát hi n, bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Lù A C trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT- VKS ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lù A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lù A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Lù A C từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lù A C, bắt ngày 18/12/2020: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và một mảnh gói nilon màu hồng; 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Lù A C, ngày 18/12/2020, kq: Dương tính và 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lù A C - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 18/12/2020 tại thị trấn N, huy n M, tỉnh Sơn La tại phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Sơn La gồm có phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định cũ + chất bột màu trắng không sử dụng đến trong quá trình giám định thuộc mẫu gửi giám định ký hi u C có khối lượng 0,17 gam.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Sau khi đại di n Vi n kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại di n Vi n Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Mộc Châu, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lù A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huy n Mộc Châu thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua được của một người phụ nữ không quen biết với giá 100.000đ vào ngày 18/12/2020, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra,bị cáo khẳng định vi c khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguy n và đúng với hành vi đã thực hi n.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguy n và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài li u bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Bị cáo Lù A C là người có đủ năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức được tác hại của vi c Tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghi n chất ma túy nên ngày 18/12/2020 bị cáo Lù A C đã có hành vi tàng trữ 0,28 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sựquy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo Lù A C không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghi n ma túy, bị cáo có 01 tiền án, ngày 22/9/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huy n Bắc Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên đã được xóa án tích.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thờimới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghi n ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lù A C, bắt ngày 18/12/2020: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và một mảnh gói nilon màu hồng; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Lù A C, ngày 18/12/2020, kq: Dương tính và 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lù A C - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 18/12/2020 tại thị trấn N, huy n M, tỉnh Sơn La tại phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Sơn La gồm có phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định cũ + chất bột màu trắng không sử dụng đến trong quá trình giám định thuộc mẫu gửi giám định ký hi u C có khối lượng 0,17 gam. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[ ] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Lù A C , quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
[ ] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều ki n kinh tế - xã hội đặc bi t khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho vi c thi hành án.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lù A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lù A C 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lù A C, bắt ngày 18/12/2020: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và một mảnh gói nilon màu hồng; 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Lù A C, ngày 18/12/2020, kq: Dương tính và 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lù A C - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 18/12/2020 tại thị trấn N, huy n M, tỉnh Sơn La tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La gồm có phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định cũ + chất bột màu trắng không sử dụng đến trong quá trình giám định thuộc mẫu gửi giám định ký hi u C có khối lượng 0,17 gam.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù A C.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huy n Mộc Châu; - Công an huy n Mộc Châu; - Chi cục THADS huy n Mộc Châu; - THAHS; - Sở Tư pháp ; - Bị cáo; - Án văn, Lưu HSVA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Hƣơng |