- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A.
- Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 80/2024/QĐ-TA | G, ngày 25 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Hương.
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Huyền Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 75/2024/QĐ-TA ngày 19 tháng 12 năm 2024, đối với người bị đề nghị:
A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986; Giới tính: Nam; Căn cước công dân: 014086008542; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đăng ký thường trú: bản A, xã B, huyện C, tỉnh Sơn La; Nơi ở: Lang thang không có nơi ở cố định; Con ông C (đã chết) và con bà P. Về nhân thân: chưa có tiền án và có 01 tiền sự ngày 21/10/2021 bị TAND huyện L, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng. A hiện đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội địa chỉ tại xã E, huyện S, thành phố Hà Nội từ ngày 05/12/2024.
Người bị đề nghị A vắng mặt tại phiên họp có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh; chức vụ: Chuyên viên; Theo Giấy ủy quyền số 02/LĐTBXH ngày 24/12/2024 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Trần Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:
Ngày 05/12/2024, tổ tuần tra công an xã K, huyện G, thành phố Hà Nội phát hiện anh A có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy nên yêu cầu anh A về trụ sở Công an xã K xét nghiệm ma túy bằng hình thức xét nghiệm nước tiểu, kết quả anh A dương tính với chất ma túy Heroin. Công an xã K đã đề nghị Phòng khám đa khoa khu vực Đ xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh A.
Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05/12/2024 của Phòng khám đa khoa khu vực Đ, huyện G kết luận anh A có nghiện ma túy là Heroin.
Tại bản tường trình, anh A thừa nhận nghiện ma túy từ năm 2017 đến nay, lần sử dụng chất ma túy gần nhất là ngày 04/12/2024 và không có nơi cư trú ổn định. Anh A tự nguyện viết đơn không đăng ký cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện thay thế. Do đó, Ủy ban nhân dân xã K đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 05.12.2024.
Theo kết quả trả lời xác minh về nơi cư trú của công an xã T, huyện L, tỉnh Sơn La xác định anh A không có nơi cư trú ổn định.
Ngày 12/12/2024, công an xã K đã ban hành Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A.
Ngày 17/12/2024, Ủy ban nhân dân xã K đã ban hành văn bản đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A.
Ngày 18/12/2024, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện G đã ban hành văn bản sô 485/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội đối với A.
Tại phiên họp hôm nay:
Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G giữ nguyên quan điểm đề nghị Toà án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A, thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội.
Người bị đề nghị là anh A có đơn xin vắng mặt tại phiên họp thể hiện quan điểm giữ nguyên lời khai đã có trong hồ sơ và đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân huyện G thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A, với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày anh A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 05/12/2024.
XÉT THẤY:
[1] Về thẩm quyền của Tòa án: Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G, thành phố Hà Nội chuyển hồ sơ đề nghị xem xét đưa anh A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Tòa án nhân dân huyện G có thẩm quyền xem xét theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.
[2] Về tính hợp pháp của hồ sơ:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A là phù hợp với quy định tại các điều 95, 96, 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và các điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021. Hồ sơ đã được Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G, thành phố Hà Nội kiểm tra và xác định hồ sơ hợp lệ.
Ngày 04/12/2024 anh A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tính đến thời điểm Tòa án mở phiên họp là trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:
Anh A đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Do đó, anh A thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:
- Tình tiết tăng nặng: anh A bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 13/2021/QĐ-TA ngày 21/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sơn La với thời hạn 22 tháng. Đến ngày 04/12/2024, anh A tiếp tục sử dụng ma túy là chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020.
- Tình tiết giảm nhẹ: anh A tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Về nhân thân: anh A thừa nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017, đã từng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy cho thấy anh A có nhân thân không tốt.
- Về mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: anh A biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật.
Từ những căn cứ trên, thấy đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tại phiên họp phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Căn cứ: Các Điều 3, 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Các Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48 và Điều 49 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Các Điều 3, 20, 21, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội; địa chỉ: Xã E, huyện S, thành phố Hà Nội.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày anh A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 05/12/2024.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này, anh A được quyền khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định này được công bố, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G.
Anh A khiếu nại thì phải gửi đơn đến Tòa án đã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G kháng nghị bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án đã xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G, Công an huyện G, Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội, các cơ quan liên quan và anh A thi hành quyết định này./.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Công an huyện G (để thực hiện); - Phòng LĐTBXH huyện G (để thực hiện); - VKSND huyện G; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội; - UBND xã K; - Anh A; - Lưu hồ sơ. | Vũ Thị Hương |