- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ D ly hôn với Nguyễn Tấn P"
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N N N N
N
N
N M
N CL
- d - nh h
TỈNH BT
CL, ngày 19 tháng 3 năm 2020. Số: 80/2020/QĐST-HNGĐ
Q Ế ỊN
ÔN N ẬN
ẬN ÌN L ÔN
À SỰ OẢ
ẬN
ƯƠN SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 379/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019 giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D - Sinh năm 1973; địa chỉ: ấp BA, thị trấn CL, huyện CL, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P - Sinh năm 1976, địa chỉ: 895/10 ấp Bình An A, thị trấn CL, huyện CL, tỉnh BT.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 11 tháng 3 năm 2020.
É
Ấ :
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 11 tháng 3 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
Q Ế ỊN :
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Nguyễn Tấn P.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Nguyễn Tấn P không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được quyền trực tiếp nuôi người con chung giữa bà với ông Nguyễn Tấn P là cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày: 06/9/2006, cháu A hiện đang sống với bà D. Bà D không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Riêng đối với Nguyễn Thị Sơn T, sinh ngày 27/02/1998, đã trưởng thành, đủ điều kiện nuôi sống bản thân, không bị bệnh tật nên bà D và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung do bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Nguyễn Tấn P tự thỏa thuận về tài sản, bà D đã rút yêu cầu chia tài sản chung. Ông P đồng ý và không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về tài sản chung.
Về nợ chung: bà D và ông P tự khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng).
Bà Nguyễn Thị Mỹ D tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền bà D nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai số 0006891 và số 0006890 cùng ngày 05/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL được khấu trừ sang tiền án phí. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Mỹ D số tiền chênh lệch còn lại là 1.703.800đ (Một triệu bảy trăm lẻ ba ngàn tám trăm đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: -VKSND huyện CL; -Chi cục THADS huyện CL; -UBND xã PH, H. GT, T. BT; -Các đương sự; -Lưu HSVA + VP. | ẨM P N L Ị N |