vanban.org

Quyết định 80/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 25/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ki phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ki 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Kiên cho Ủy ban nhân dân phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kiên - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ki phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2020/HS-ST
Ngày 25-8-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Thái

Ông Diệp Văn Tư

Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Vũ Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Ki, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1978 tại phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố Đông Thịnh, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế Hùng và bà Nguyễn Thị Quyến; vợ: Nguyễn Thị Thoa, con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại “có mặt”.

- Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1986 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1960; trú tại: Tổ 7 phường Trưng Trắc, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (mẹ đẻ Nguyễn Mạnh Đ)

Người đại diện theo ủy quyền của bà Liên: Bà Nguyễn Thúy Liên, sinh năm 1960; trú tại: Tổ 2 phường Trưng Trắc, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ dân phố Lai Sơn, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Ki có Giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp có giá trị sử dụng đến ngày 15 tháng 11 năm 2022. Kiên lái xe thuê cho ông Hoàng Văn S. Khoảng 12 giờ ngày 21 tháng 3 năm 2020, Kiên điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát: 88C-064.01 loại tải trọng 3, 4 tấn của ông Sáu chở hàng từ cầu Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội về thành phố Vĩnh Yên. Đi cùng xe với Kiên có ông Sáu là chủ xe và anh Nguyễn Đình Sơn là nhân viên làm thuê cho ông Sáu. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, Kiên điều khiển xe đi trên đường Quốc lộ 2A theo hướng Phúc Yên đi thành phố Vĩnh Yên. Khi đi đến ngã tư giao cắt giữa đường Quốc Lộ 2A với đường “Mới” thị trấn Hương Canh đi xã Tân Phong thuộc địa phận thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, lúc này đèn tín hiệu giao thông theo hướng đi của Kiên là màu xanh, Kiên bật đèn xin nhan bên trái của xe ô tô rồi điều khiển cho xe ô tô rẽ trái chuyển hướng đi về xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên quan sát thấy cách xe của Kiên khoảng 10m có xe mô tô biển kiểm soát: 29L1-060.37 do anh Nguyễn Mạnh Đ điều khiển đi hướng từ Vĩnh Yên đi Phúc Yên nhưng Kiên không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chuyển hướng đi sang đường “Mới” để đi xã Tân Phong thì phần đầu bên phải xe ô tô do Kiên điều khiển đã đâm vào xe mô tô do anh Đào điều khiển làm xe mô tô đổ xuống đường, anh Đào bị ngã văng đập vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô rồi rơi xuống đường bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu ở Trung tâm y tế huyện Bình Xuyên nhưng do thương tích nặng nên đã tử vong.

Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan điều tra công an huyện Bình Xuyên đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám các phương tiện theo quy định và tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C của Nguyễn Văn Ki; xe ô tô; xe mô tô biển kiểm soát: 29L1-060.37 cùng một số mẫu vật khác để phục vụ công tác điều tra.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 34/TT ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Trung tâm pháp y Tỉnh Vĩnh Phúc đối với anh Nguyễn Mạnh Đ kết luận: Dấu hiệu qua giám định: Nhiều vết xây sát- rách da trên cơ thể và nhiều nốt tiêm đóng vảy tiết nếp gấp khuỷa tay phải. Đa chấn thương chấn thương sọ - mặt, nhiều dịch máu trong ống tai và mũi miệng, gãy xương hàm dưới nhiều đoạn, vỡ xương sọ. Gãy hở đầu dưới hai xương cẳng chân trái.

Nguyên nhân chết: Đa chấn thương sọ - mặt nặng không hồi phục trên nạn nhân nhiễm HIV (+).

Qúa trình khám nghiệm tử thi đã thu khoảng 15ml máu để làm xét nghiệm nồng độ cồn, chất gây nghiện, HIV; tạm giữ 30 viên thuốc màu vàng không có tên, chữ (một số viên đã bị vỡ nhỏ) cùng 01 gói giấy màu trắng, 01 bơm kim tiêm bằng nhựa loại 3ml đã gãy đầu kim và quần áo mặc bên ngoài.

Tại Kết luận giám định số: 630/KLGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2020; 696/KLGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

Mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của tử thi Nguyễn Mạnh Đ gửi đến giám định có cồn (Ethanol), nồng độ cồn (Ethanol) trong máu là 128,586mg/100ml.

Tìm thấy chất ma túy Morphine có trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của tử thi Nguyễn Mạnh Đ gửi đến giám định.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKSBX ngày 14 tháng 7 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố Nguyễn Văn Ki về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Ki từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo Kiên từ 01 năm đến 02 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Người đại diện của gia đình bị hại thừa nhận lời trình bày của bị cáo là đúng. Về trách nhiệm dân sự: Bà Liên xác nhận giữa bị cáo và gia đình bà Liên đã thỏa thuận về phần bồi thường dân sự, bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bà Liên tổng số tiền 58.000.000đồng. Nay gia đình bà Liên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về phần dân sự; về hình phạt bà đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Kiên và cho bị cáo Kiên được hưởng án treo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã trình bày và xác nhận: Xe ô tô bị cáo điều khiển gây tai nạn là xe của ông. Khi bị cáo lái xe tham gia giao thông ông có ngồi trên xe nên bị cáo trình bày về diễn biến sự việc vụ tai nạn là hoàn toàn đúng. Sau khi tai nạn xẩy ra ông và bị cáo đã đến gia đình bị hại và đã cùng thống nhất về bồi thường dân sự. Ông đã hỗ trợ cho bị cáo số tiền 12.500.000đồng để bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại, ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho ông số tiền 12.500.000đồng và ông đã nhận lại xe ô tô và giấy tờ xe, xe chỉ bị xây sát nhưng ông đã tự sửa chữa nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về phần dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Ki đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị cáo Nguyễn Văn Ki khai nhận: Bị cáo Kiên có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định, lái xe thuê cho ông Hoàng Văn S. Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 21 tháng 3 năm 2020, Kiên lái xe đi đến ngã tư giao cắt giữa đường Quốc Lộ 2A với đường “Mới” thị trấn Hương Canh đi xã Tân Phong thuộc địa phận thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Kiên bật đèn xin nhan bên trái của xe ô tô rồi điều khiển cho xe ô tô rẽ trái chuyển hướng đi về xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, phần đầu bên phải xe ô tô do Kiên điều khiển đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát: 29L1-060.37 do anh Nguyễn Mạnh Đ điều khiển đi hướng từ Vĩnh Yên đi Phúc Yên. Hậu quả: Anh Đào bị thương tích nặng dẫn đến tử vong. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, sơ đồ vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn, bản ảnh chụp tại hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của Nguyễn Văn Ki điều khiển xe ô tô chuyển hướng tại nơi đường giao nhau đã không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ; đã vi phạm khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/TT-BGTVT ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng.

Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định: Người lái xe….phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường”

Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định: Trong khi chuyển hướng, người lái xe… chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Khoản 1, 2, 3 Điều 5 thông tư 31 quy định:

“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm…;

2. Chuyển hướng xe chạy…;

3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức…..”.

Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Văn Ki phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Nội dung Điều luật quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm qui định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, Làm chết người…”

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại tới tính mạng, tài sản của người khác, làm ảnh hưởng tới cuộc sống của gia đình bị hại cũng như của gia đình bị cáo, gây tâm lý hoang mang đối với người tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tham gia quân đội, đã xuất ngũ. Theo quy định của Luật giao thông đường bộ thì khi tham gia giao thông nơi đường giao nhau, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nhưng trong vụ án này bị hại điều khiển xe mô tô phóng nhanh, không giảm tốc độ khi đến đường giao nhau và bị hại điều khiển xe mô tô khi trong cơ thể có chất ma túy và trong máu có nồng độ cồn (Ethanol) là 128,586mg/100ml nên bị hại trong vụ án cũng có một phần lỗi. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú ổn định, tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo nên hành vi phạm tội của bị cáo đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp của bị cáo là lái xe nên phải cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự với thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra giữa bị cáo và đại diện gia đình người bị hại đã thỏa thuận với nhau việc bồi thường, bị cáo đã bồi thường xong; các bên đề nghị ghi nhận về việc tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự. Xét các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc bồi thường là không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vật chứng của vụ án và các vấn đề liên quan:

Đối với số tiền 12.500.000 đồng ông Hoàng Văn S hỗ trợ cho Kiên để Kiên bồi thường cho gia đình bị hại nhưng ông Sáu không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU biển kiểm soát: 88C-064.01 quá trình điều tra xác định là của ông Hoàng Văn S nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Sáu, sau khi nhận lại tài sản, ông Sáu không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát: 29L1-060.37 qua điều tra xác định là xe của anh Nguyễn Mạnh Đ nên cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện gia đình bị hại, nhận lại xe đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 30 viên thuốc màu vàng không có tên, chữ (Một số viên đã bị vỡ nhỏ) cùng 01 gói giấy màu trắng; 01 bơm kim tiêm 3ml đã gãy đầu kim; 01 bộ quần áo cơ quan Công an huyện Bình Xuyên thu giữ trên người của Nguyễn Mạnh Đ trong quá trình khám nghiệm tử thi là của bị hại, tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại từ chối không nhận lại. Hội đồng xét xử thấy những tài sản trên hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Nguyễn Văn Ki cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ki phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ki 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Kiên cho Ủy ban nhân dân phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Văn Ki hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo Nguyễn Văn Ki với đại diện gia đình bị hại, số tiền là 58.000.000 đ (Năm mươi tám triệu đồng). Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn Ki nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành hình phạt bổ sung cấm hành nghề (Giấy phép lái xe do Tòa án giữ).

Tịch thu tiêu hủy 30 viên thuốc màu vàng không có tên, chữ (Một số viên đã bị vỡ nhỏ) và gói giấy màu trắng; 01 bơm kim tiêm 3ml đã gãy đầu kim; 01 bộ quần áo.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Bình Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 16 tháng 7 năm 2020).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ki phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ