vanban.org

Quyết định 80/2019/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/04/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Từ Công H, sinh năm 1946; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Đường L, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005095 ngày 01/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Bà Nguyễn Thị T đã nộp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Từ Công H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Từ Công H, sinh năm 1946; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Đường L, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 80/2019/QĐST-DSQuận 8, ngày 16 tháng 4 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Kim Nguyên

Thư ký phiên họp: Ông Lâm Cao Sơn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2019 về việc “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 23/2019/QĐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Đường số YZ, tổ TY, phường BT, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông K’ Đ, sinh năm: 1991; địa chỉ: Đường NT, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 11/4/2018 lập tại Văn phòng công chứng Chợ Lớn).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Từ Công H, sinh năm 1946; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Đường L, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp,Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ vào Hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/9/2015 giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị T với bên nhận chuyển nhượng ông Từ Công H cho thấy giữa bà Tvà ông H có phát sinh giao dịch dân sự; có quyền, lợi ích liên quan đến nhau; bà T yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông H. Do đó, xác định đây là việc dân sự về “yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Nơi cư trú cuối cùng của ông H tại Quận H nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu - ông K’ Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt bà T và ông K’ Đ.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo Đơn yêu cầu và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền của bà T là ông K’ Đ có cùng nội dung trình bày: Ngày 25/9/2015, bà Nguyễn Thị T và ông Từ Công H có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất GB, tờ bản đồ số O, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 12.000.000 đồng/một mét ngang mặt tiền, tổng số tiền chuyển nhượng 20 mét ngang mặt tiền là 240.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng, ông H chỉ thanh toán cho bà T 20.000.000 đồng vào ngày 14/01/2006, số tiền 220.000.000 đồng còn lại từ đó đến nay ông H không thanh toán. Vì lý do cần bổ túc cho hồ sơ khởi kiện ông H tranh chấp về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên nên bà T yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông H. Bà T không có yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông H.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.

Theo quy định tại Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này”.

Xét, tại Kết quả xác minh của Công an Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời Phiếu yêu cầu xác minh số 01/2019/YCXM ngày 21/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 8, có nội dung “Ông Từ Công H, sinh năm 1946 có hộ khẩu thường trú Đường L, Phường B, Quận H từ năm 2006 đến tháng 8/2018. Hiện nay, ông Từ Công H không còn thực tế cư trú tại Đường L, Phường B, Quận H. Nhà số Đường L, Phường B, Quận H đã bán từ tháng 8/2018”. Như vậy, ông Từ Công H đã biệt tích đến nay là trên 06 tháng liền.

Do đó, việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Từ Công H, cũng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên họp là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.

Về việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Bà T không có yêu cầu, nên không xem xét.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367, Điều 371, Điều 372, khoản 1 Điều 381 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 64 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị T: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Từ Công H, sinh năm 1946; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Đường L, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005095 ngày 01/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3/ Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ