vanban.org

Quyết định 80/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 03/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2019/HS-ST
Ngày: 03/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Đạt

Ông Tạ Đức Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Hoàng Phương – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 03/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2019/TLST-HS ngày 17/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2019/QĐXXST-HS ngày 19/4/2019 đối với bị cáo: TRẦN ANH D (tức N ), sinh năm 1971; HKTT và chỗ ở: Thôn DN, xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc Th (c) và bà Trần Thị D’ (c); có vợ là Hoàng Thị L (đã ly hôn) và 2 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 116 ngày 08/01/2019 do Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo có 02 tiền án, 02 tiền sự:

* Tiền sự:

- Ngày 28/7/1997 đi cơ sở giáo dục Thanh Hà thời hạn 12 tháng.

- Ngày 26/3/2009 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm 06.

*Tiền án:

- Ngày 19/6/1999, Tòa án nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân (trị giá tài sản 800.000 đồng).

- Ngày 23/12/2014, Tòa án nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội xử 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 20/01/2017.

Bị bắt ngày 05/01/2019. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16h20 phút ngày 05/01/2019, Trần Anh D đi xe máy đến khu vực ngõ 113 phố NT, phường NT, Long Biên, Hà Nội mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, D mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy hết 150.000 đồng. Sau đó, D cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về. Khi D đi đến đầu ngõ 113 phố NT, phường NT, Long Biên, Hà Nội thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ: 01 gói giấy bạc màu bên trong có chất bột màu trắng, 01 xe máy BKS 29L1-9611.

Tại kết luận giám định số 275 ngày 11/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là loại ma túy Heroin, khối lượng: 0,197 gam.

Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKS-LB ngày 12/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Anh D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Anh D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Anh D cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự nên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án, 02 tiền sự trong đó có 1 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này là tái phạm, thái độ khai báo là thành khẩn, ăn năn hối cải. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 20-24 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về tang vật: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,197gam heroin. Đối với chiếc xe máy BKS 29L1-9611 thu giữ của bị cáo đề nghị trả lại cho bị cáo.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, VKS truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Anh D tại phiên toà phù hợp với lời khai của tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, bản kết luận giám định, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 16h30 phút ngày 05/01/2019, tại khu vực đầu ngõ 113 phố NT, phường NT, Long Biên, Hà Nội, Trần Anh D có hành vi tàng trữ trái phép 0,197 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì tổ công tác Công an phường NT phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý của Nhà nước và xã hội nên phải xử lý nghiêm khắc.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Nhân thân bị cáo có 2 tiền sự vào các năm 1997 và 2009 đã hết thời hiệu và 02 tiền án. Ngày ngày 19/6/1999, Tòa án nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân (trị giá tài sản 800.000 đồng), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí nên bản án đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật. Ngày 23/12/2014, Tòa án nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo ra trại ngày 20/01/2017 vì vậy phạm tội lần này là tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo D, Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian giúp bị cáo cai nghiện ma túy và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Biện pháp tư pháp: 0,197gam heroin thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ, lưu hành vì vậy cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe máy BKS 29L1-9611 thu giữ của bị cáo HĐXX thấy trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho D tại khu vực ngõ 113 NT, bị cáo khai không biết tên tuổi, địa chỉ, cơ quan công an đã thân dẫn bị cáo và tiến hành rà soát nhưng không phát hiện được, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Anh D 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2019.

2. Biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy 0,197gam heroin hiện có tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo phiếu nhập vật chứng ngày 21/01/2019.

Trả lại cho bị cáo 01 xe máy Biển kiểm soát 29L1-9611 số khung 1001698, số máy 00501698 đã qua sử dụng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2019.

3. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ