- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Xuân N và Phạm Đình H đều phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2022/HS-ST Ngày 28-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Minh Hợi và ông Trần Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt, Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Trần Xuân N, Sinh ngày 17 tháng 01 năm 1977 tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Khối 2A, thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Trần Xuân Vỹ, sinh năm 1945; con bà: Nguyễn Thị Trâm, sinh năm 1948; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Ngày 13/7/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử theo thủ tục phúc thẩm, xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Chấp hành xong ngày 06/01/2018, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2022 cho đến nay, hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Đình H, Sinh ngày 07 tháng 9 năm 1978 tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 5, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông: Phạm Đình Thanh, sinh năm 1944; con bà: Trần Thị Đào, sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Thị Cương, sinh năm 1978; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2022 cho đến nay, hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Xuân Vỹ, sinh năm 1945; Trú tại: Khối 2A, thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 24/6/2022, Trần Xuân N, Phạm Đình H, là bạn và đều là người sử dụng ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma túy (Heroine) nên Trần Xuân N, gọi điện thoại cho H, Phạm Đình H làm việc ở vườn đi vào nhà thì thấy cuộc gọi nhỡ của Trần Xuân N, nên H lấy điện thoại gọi lại cho N và hỏi N: “chi đó”, N trả lời: “Tình hình răng, có được không”, ý của N hỏi H là có hỏi mua được ma túy Heroine không, thì H nói để điện thoại hỏi đã. Sau đó, H lấy điện thoại gọi cho Thạch (thường gọi là Thạch Ngũ, trú tại xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) để hỏi và nhờ Thạch đi mua ma túy thì Thạch đồng ý và hẹn H đến cây xăng xã Đà Sơn để đưa tiền. Tiếp đó, Phạm Đình H gọi điện thoại lại cho N nói nhờ được rồi và nói H có 100.000 đồng để chung tiền mua ma túy, Trần Xuân N nói lại để N lên. N đi đến nhà ông Trần Xuân Vỹ, trú tại khối 2A, thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh chương mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, BKS: 17B1-632.57 của ông Vỹ, N bảo mượn xe mô tô để đi giỗ thì ông Vỹ đồng ý cho N mượn xe. Trần Xuân N điều khiển xe mô tô đến nhà H và đèo H đến cây xăng thuộc xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, để đưa tiền cho Thạch đi mua ma túy. Khi đến cây xăng, Trần Xuân N đưa cho Phạm Đình H số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền góp với H để mua ma túy. H cầm tiền của N đưa và lấy trong túi quần của H ra 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) rồi đưa số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) cho Thạch (Ngũ) để đi mua ma túy. Thạch cầm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của H đưa đi đâu đó thì H và N không biết. Khoảng 10 phút sau, Thạch điện thoại cho H, nói đi vào khu vực Bệnh viện Đa khoa huyện Đô Lương để lấy ma túy. Trần Xuân N đèo Phạm Đình H đi vào đường gần Bệnh viện thì gặp Thạch và Thạch đưa cho H 01(một) gói nhỏ bằng giấy màu trắng kích thước (01x02)cm, bên trong có chứa ma túy Heroine. H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, N điều khiển xe mô tô đèo H đi tìm địa điểm để sử dụng. đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày 24/6/2022 khi đi đến khu vực đường xóm 3, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, thì N và H bị lực lượng Công an huyện Đô Lương phát hiện. Do hoảng sợ nên Phạm Đình H đã vứt xuống mặt đất cạnh chỗ đứng của H và N khoảng 01 mét gói ma túy mà H và N vừa mới mua được. Lực lượng công an đã tiến hành thu giữ 01 (một) gói nhỏ bằng giấy màu trắng bên trong chứa ma túy (heroine), niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 24/6/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, thành lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định. Sau khi loại bỏ bao bì gói niêm phong thu giữ của Trần Xuân N, Phạm Đình H, chất bột màu trắng còn lại có tổng khối lượng 0,123 gam (không phẩy một trăm hai mươi ba gam) và lấy toàn bộ chất bột màu trắng gửi đi giám định.Tại bản kết luận giám định số 967, /KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An Kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Đình H, Trần Xuân N, gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Đình H, Trần Xuân N, có khối lượng là 0,123 gam (không phẩy một trăm hai mươi ba gam).
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ của Trần Xuân N, Phạm Đình H 01 (Một) gói nhỏ bằng giấy màu trắng, bên trọng có 0,123 gam là ma túy (Heroine), đã lấy hết 0,123 gam ma túy (Heroine) làm mẫu giám định; thu giữ của Trần Xuân N 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, BKS: 17B1-632.57, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphonne 7 plus; thu giữ của Phạm Đình H 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy J2. Quá trình điều tra xác định được chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 17B1-632.57 là của ông Trần Xuân Vỹ, trú quán khối 2A, thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, ông Vỹ không biết việc bị can N mượn xe mô tô đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho ông Trần Xuân Vỹ; vật chứng là 01 phong bì thư đựng vỏ giấy, vỏ bao bì niêm phong ban đầu; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphonne 7 plus; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy J2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, đã chuyển giao đến kho vật chứng Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương để bảo quản.
Bản cáo trạng số 84/CT-VKS-ĐL ngày 06/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Trần Xuân N và Phạm Đình H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N và Phạm Đình H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Xuân N và Phạm Đình H mỗi bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Miễn hình phạt phụ là phạt tiền cho các bị cáo. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Cả hai bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Xuân N và Phạm Đình H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Trần Xuân N và Phạm Đình H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 24/6/2022, tại địa phận thuộc xóm 3, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Bị cáo Trần Xuân N và Phạm Đình H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,123 gam ma túy (Heroine) mục đích sử dụng thì bị bắt giữ. Như vậy hành vi của Trần Xuân N và Phạm Đình H đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây hoang mang dao động trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, gây tâm lý bất an trong xã hội, bị cáo Trần Xuân N và Phạm Đình H được gia đình cho ăn học đến lớp 12/12 nhưng không tu chí làm ăn đua đòi nghiện gập nên các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Các bị cáo tuy không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo N có nhân thân xấu đã bị xét xử 01 lần về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thể hiện là đối tượng khó giáo dục. Chính vì vậy đưa bị cáo ra xét xử công khai tại phiên toà hôm nay và lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên cũng cần xem xét các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo N có bố đẻ và mẹ đẻ là người có công với cách mạng được thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3. Bị cáo H có bố đẻ là bệnh binh và mẹ đẻ là thương binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù các bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, nhưng qua xác minh của cơ quan điều tra thì các các bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, tài sản riêng không có gì đáng giá vì vậy không áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với các bị cáo.
Trong vụ án này, có đối tượng tên Thạch Ngũ, H khai đã bán ma tuý cho các bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đang tiến hành điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý bằng một vụ án khác.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: 01 phong bì thư của Công an huyện Đô Lương đã niêm phong bên trong có chứa: vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ giấy thu giữ của Trần Xuân N và Phạm Đình H. Đây là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone7 plus màu đen bên trong chứa sim số: 0971.272.757, số imel: 356570085773606 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung J2 Prime màu vàng có số kiểu máy SM-G532GIDS bên trong chứa sim số: 0867.849.258 đã qua sử dụng đây là vật dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Trần Xuân N và Phạm Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Trần Xuân N và Phạm Đình H đều phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Trần Xuân N 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 24/6/2022.
Xử phạt: bị cáo Phạm Đình H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 24/6/2022.
2. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư của Công an huyện Đô Lương, kích thước 17x23 cm đã niêm phong bên trong có chứa: vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ giấy màu trắng.
Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Iphone7 plus màu đen bên trong chứa sim số: 0971.272.757, số imel: 356570085773606 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung J2 Prime màu vàng có số kiểu máy SM-G532GIDS bên trong chứa sim số: 0867.849.258
(Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).
3. Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Xuân N và Phạm Đình H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Xuân N, Phạm Đình H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Xuân Vỹ có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - - VKSND huyện Đô Lương; - - VKSND tỉnh Nghệ An; - - TAND tỉnh Nghệ An; - - Công an huyện Đô Lương; - - THADS huyện Đô Lương; - - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - - Bị cáo; - - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Anh |