vanban.org

Quyết định 79/2022/HS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A. Bà Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với ông Lê Ngọc B.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim A và ông Lê Ngọc B có 02 (Hai) con chung Lê Ngọc C – Sinh ngày 03/02/2000 và Lê Ngọc D – Sinh ngày 31/3/2002. Các con chung đã trưởng thành nên bà Nguyễn Thị Kim A và ông Lê Ngọc B không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim A và ông Lê Ngọc B không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A. Bà Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với ông Lê Ngọc B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2022/HS-ST
Ngày: 15/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hoa

2. Ông Nguyễn Lơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 227/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2022/QĐXX - HNGĐ ngày 29 háng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim A - Sinh năm: 1981

Nơi cư trú: Thôn S, xã Ninh X, thị xã H, tỉnh H.

Có mặt;

- Bị đơn: Ông Lê Ngọc B - Sinh năm: 1976

Nơi cư trú: Thôn S, xã X, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa.

Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A trình bày:

Bà và ông Lê Ngọc B tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H (Nay là phường H), thị xã Ninh Hòa vào năm 1999 và được Ủy ban nhân dân phường H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 101, quyển số 01/1999. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp. Ông B có tính nhỏ mọn, chi li về tiền bạc, kinh tế trong gia đình. Năm 2020, bà đã làm đơn ly hôn nhưng sau đó, bà rút đơn khởi kiện. Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Nay bà không còn tình cảm với ông B nên bà yêu cầu được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà và ông B có 02 con chung tên Lê Ngọc C, sinh ngày: 03/2/2000 và Lê Ngọc D, sinh ngày 31/3/2002. Hai con chung đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, bị đơn – ông Lê Ngọc B trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Kim A tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H (Nay là phường H), thị xã H vào năm 1999 và được Ủy ban nhân dân phường H cấp giấy chứng nhận kết hôn. Nay bà A yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn với bà A vì ông vẫn còn tình cảm với vợ. Quá trình chung sống, ông thừa nhận có mâu thuẫn về tình cảm. Tuy nhiên, ông không chi li vấn đề tiền bạc, kinh tế trong gia đình. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, ông và bà A có nói chuyện với nhau để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà A không đồng ý quay về để sống chung. Khoảng gần hai năm nay, ông và bà A không còn sống chung với nhau. Nay bà A yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn vì ông còn thương vợ con. Tuy nhiên, từ thời điểm hai vợ chồng không còn sống chung, ông có ý định xuống thăm hỏi bà A nhưng bà A không đồng ý quay về sống chung.

Về con chung: Ông và bà A có 02 con chung tên Lê Ngọc C, sinh ngày: 03/2/2000 và Lê Ngọc D, sinh ngày 31/3/2002. Hai con chung đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Lê Ngọc B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 35, Điều 48, Điều 175, Điều 177, Điều 179, Điều 191, Điều 195, Điều 196 và Điều 202 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tài sản chung nguyên đơn không yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim A yêu cầu ly hôn với ông Lê Ngọc B. Theo khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyết của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh H. Ông Lê Ngọc B là bị đơn đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim A và ông Lê Ngọc B đăng ký kết hôn năm 1999 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H (Nay là phường H), thị xã H, tỉnh H vào ngày 14 tháng 102 năm 1999 trên tinh thần tự nguyện, theo giấy chứng nhận kết hôn số 101/1999 ngày 14/10/1999 nên quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông B là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, theo lời trình bày của nguyên đơn. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng càng về sau thì thường phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên tình cảm vợ chồng do vậy mà ngày càng nhạt dần. Nay bà A không còn tình cảm với ông B nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông B. Ông B thừa nhận giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nên không còn chung sống với nhau. Tuy nhiên, ông vẫn còn yêu thương bà A nên ông không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, bà A đã không còn tình cảm với ông B, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà A và ông B có 02 con chung tên: Lê Ngọc C, sinh ngày: 03/2/2000 và Lê Ngọc D, sinh ngày 31/3/2002. Hai con chung đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà A và ông B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà A phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A. Bà Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với ông Lê Ngọc B.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim A và ông Lê Ngọc B có 02 (Hai) con chung Lê Ngọc C – Sinh ngày 03/02/2000 và Lê Ngọc D – Sinh ngày 31/3/2002. Các con chung đã trưởng thành nên bà Nguyễn Thị Kim A và ông Lê Ngọc B không yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim A và ông Lê Ngọc B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim A phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0004642 ngày 22/3/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã H. Bà Nguyễn Thị Kim A đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ