- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Hữu D - Trần Đức Q"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 246/TLST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyển sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
- Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 79/2020/QĐST-DS | Đồng Nai, ngày 30 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218 và điểm a, b khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;
Xét thấy:
Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện nguyên đơn ông Nguyễn Hữu D cung cấp địa chỉ của bà Trần Thị Kim C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tại: Số 250/7, O C Dr S R VA 20152, USA nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bà C đang ở địa chỉ nêu trên. Ông D cam kết trong quá trình giải quyết vụ án sẽ cung cấp thông tin địa chỉ của bà C. Nếu thông tin cung cấp sai ông D sẽ chịu trách nhiệm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (viết tắt TAND tỉnh Đồng Nai) đã thực hiện ủy thác tư pháp các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Trần Thị Kim Chi theo địa chỉ: Số 250/7, O C Dr S R VA 20152, USA. Tuy nhiên, theo kết quả ủy thác tư pháp của Công ty A, Hoa Kỳ thì Cơ quan thẩm quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không thực hiện được ủy thác tư pháp nêu trên do không tìm được bà Trần Thị Kim C tại địa chỉ: Số 250/7, O C Dr S R VA 20152, USA bà C không còn sinh sống tại địa chỉ này.
Ngày 05/12/2019, TAND tỉnh Đồng Nai làm việc với bà Nguyễn Thị Thu H là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu D, tại buổi làm việc TAND tỉnh Đồng Nai đã thông báo cho bà H biết về nội dung văn bản số: 3118/BTP-PLQT ngày 24/9/2019 của Bộ Tư pháp thông báo kết quả về việc không thực hiện được ủy thác tư pháp cho bà Chi tại Hoa Kỳ, bà H cho biết do không liên hệ được với ông D nên không có ý kiến gì, đồng thời bà xin gia hạn thêm thời gian 10 ngày kể từ ngày 05/12/2019 để liên hệ với ông D và cung cấp ý kiến cho Tòa án. Tuy nhiên, sau đó bà H không có phản hồi.
Ngày 04/8/2020, TAND tỉnh Đồng Nai tiếp tục lập biên bản làm việc với bà Nguyễn Thị Thu H, theo đó Tòa án yêu cầu bà H cung cấp địa chỉ chính xác của bà C đang cư trú tại Hoa Kỳ để thực hiện việc ủy thác tư pháp. Bà H cho biết hiện nay bà không liên hệ được với ông D nên không thể cung cấp thông tin theo yêu cầu của Tòa án, hơn nữa theo bà H hiện nay ông D cũng không biết bà C đang ở đâu. Vì vậy, bà H đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo điểm a, điểm b khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Nếu Tòa án nhận được văn bản thông báo về việc tống đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ của đương sự không đúng hoặc đương sự đã chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới thì Tòa án giải quyết như sau:
a) Tòa án yêu cầu nguyên đơn và người thân thích trong nước của đương sự ở nước ngoài (nếu có) cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài. Tòa án tiếp tục tống đạt thông báo thụ lý cho đương sự ở nước ngoài theo địa chỉ do nguyên đơn, người thân thích trong nước của đương sự ở nước ngoài cung cấp;
b) Nếu nguyên đơn, người thân thích trong nước của đương sự không cung cấp được hoặc người thân thích trong nước của đương sự từ chối cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài hoặc đương sự ở nước ngoài không có người thân thích ở Việt Nam thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án giải thích cho người khởi kiện biết quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết”.
Như vậy, sau khi nhận được kết quả ủy thác tư pháp của Công ty A, Hoa Kỳ do Bộ Tư pháp cung cấp, TAND tỉnh Đồng Nai đã nhiều lần yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp hoặc liên hệ với ông D để cung cấp địa chỉ chính xác của bà Nguyễn Thị Kim C tại Hoa Kỳ để Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp. Tuy nhiên, bà H vẫn không cung cấp được. Do đó, Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo điểm a, b khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Sau khi Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án, theo Khoản 3 Điều 192 và Điểm b khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Nguyễn Hữu D được quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 246/TLST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyển sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp G, xã X, huyện X1, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông D theo văn bản ủy quyền ngày 29/8/2018: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1972; địa chỉ: 27B/21, tổ 18, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ tạm trú: Khu phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: 1/ Ông Trần Đức Q, sinh năm 1966.
2/ Bà Nguyễn Thị Hạnh N, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã X, huyện X1, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa.
2/ Công ty cổ phần Thương mại và xây dựng P; địa chỉ: Lầu 4, số 96 Hà Huy G, phường Q, TP. B, tỉnh Đồng Nai.
3/ Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số 250/7, O C Dr S R VA 20152, USA.
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu D có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự trên khi đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 192 và khoản 1 Điều 218, Điểm b khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3. Án phí:
Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông D số tiền 12.000.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 005054 ngày 31/8/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
4. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn trong hạn bảy (07) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cục THADS tỉnh Đồng Nai - Lưu HS. | THẨM PHÁN (đã ký) Trần Thị Thanh Hà |