vanban.org

Quyết định 79/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị B 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 14-5-2020). Giao bị cáo Lê Thị B cho Ủy ban nhân dân phường Nguyễn An Ninh, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị B - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2020/HS-ST
Ngày 14-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Liệt

Ông Hà Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Thị B, sinh năm 1981, tại tỉnh Thanh Hoá; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: 50 đường B, phường N, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; bố: Lê Kim N và mẹ: Nguyễn Thị C; chồng: Trần Hưng K, có 02 con lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện cư trú: 50 đường B, phường N, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị hại: Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1983 (Đã chết trong vụ tai nạn)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị M, sinh năm: 1984 (Vợ bị hại), địa chỉ: 4 đường T, phường N, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 27-10-2019, bị cáo Lê Thị B điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển số 72C1-427.18 lưu thông ngược chiều trên phần đường dành cho xe mô tô của đường 2/9 theo hướng đi Vòng xoay Tượng đài dầu khí đến Vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh, khi đi được một đoạn đến khu vực trước nhà 565D thì gây tai nạn với xe mô tô hiệu Airblade biển số 72C1-664.56 lưu thông đúng chiều trên đường 2/9 do anh Nguyễn Hữu K điều khiển theo hướng đi từ vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh về vòng xoay Tượng đài dầu khí.

Hậu quả: Anh K bị chết, bị cáo B bị xây xát nhẹ; 02 xe mô tô bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Khu vực xảy ra tai nạn giao thông thuộc phần đường dành cho xe mô tô của đường 2/9, phường Thắng Nhất, Tp.Vũng Tàu. Mặt đường trải bê tông nhựa bằng phẳng, giữa đường có dải phân cách cứng phân chia hai chiều xe chạy, mỗi chiều có dải phân cách cứng phân chia phần đường dành cho xe mô tô và xe ô tô lưu thông. Phần đường dành cho xe mô tô rộng 6,50m, đầu dải phân cách có biển 102 “ Cấm đi ngược chiều”.

Sau khi tai nạn xảy ra hiện trường để lại:

- Vị trí xe mô tô biển số 72C1-427.18: Sau tai nạn, xe mô tô biển số 72C1-427.18 đổ nghiêng bên phải, nằm sát dải phân cách cứng phân chia làn mô tô và ô tô lưu thông bên phải đường 2/9 hướng từ Vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh về Vòng xoay Tượng đài Dầu khí. Đầu xe hướng về phía đi về Vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh. Tâm trục bánh xe trước và tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 72C1-427.18 cách mép chuẩn lần lượt là 6m10 và 6m20.

- Vị trí xe mô tô biển số 72C1-664.56: Sau tai nạn, xe mô tô biển số 72C1-664.56 đổ nghiêng bên trái nằm ở phần đường dành cho xe mô tô lưu thông bên phải đường 2/9 hướng từ Vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh về Vòng xoay Tượng đài Dầu khí. Đầu xe hướng về phía đi Vòng Xoay Tượng đài Dầu khí, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 72C1-664.56 cách mép chuẩn lần lượt là 5m10 và 5m00. Bệ để chân trước bên phải xe mô tô biển số 72C1-664.56 cách gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-427.18 là 22m50.

- Vết cày xe mô tô biển số 72C1-664.56 là vết để lại trên mặt đường dẫn đến vị trí xe mô tô biển số 72C1-664.56 đổ. Đầu vết cày cách mép chuẩn là 4m90, đuôi vết cày là tại vị trí bệ để chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-664.56.

- Vết máu thứ nhất: là vết máu khô để lại tại hiện trường ở phần đường dành cho xe mô tô lưu thông bên phải đường 2/9 theo hướng Vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh về Vòng xoay Tượng đài Dầu khí. Tâm vết máu cách mép chuẩn là 5m00. Diện tích máu là 0m30 x 0m30

- Vết máu thứ hai: là vết máu khô lưu lại tại hiện trường ở phần đường dành cho xe mô tô lưu thông bên phải đường 2/9 theo hướng từ Vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh về Vòng xoay Tượng đài Dầu khí. Tâm vết máu cách mép chuẩn là 5m30. Diện tích máu là 0m20 x 0m20.

Qua công tác khám nghiệm hiện trường, các dấu vết để lại tại hiện trường và phương tiện thì khu vực điểm va chạm được xác định: Cách mép chuẩn 5m80; cách trục dài cơ sở làm mốc 21m70; cách tâm vết máu thứ nhất là 18m20 ; cách tâm vết máu thứ hai là 17m70; cách gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-427.18 là 0m50; cách bệ để chân trước bên phải xe mô tô biển số 72C1-664.56 là 23m00; cách đầu vết cày xe mô tô biển số 72C1-664.56 là 18m70.

Tại bản kết luận giám định dấu vết cơ học số 252/PC09-Đ2 ngày 17/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu như sau:

- Dấu vết trượt xước màu đen tại mặt trước và mặt ngoài đầu tay phanh bên trái ở xe mô tô biển số 72C1-664.56 có chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái (ảnh 5, 7 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, rách ốp nhựa tổng hợp (dạng cao su) tại mặt trước và mặt ngoài đầu tay lái bên trái ở xe mô tô biển số 72C1-427.18 có chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái (ảnh 6, 8 trong bản ảnh giám định)

- Dấu vết gãy, vỡ nhựa tại yếm phải dưới bên tráu và vỡ nhựa mặt dưới và mặt ngoài gác để chân trước bên trái; dấu vết cong vênh đầu ốp kim loại gác để chân trước bên trái; dấu vết gãy, vỡ nhựa và gãy chốt cố định nhựa bảo vệ phía dưới gác để chân trước bên trái ở xe mô tô biển số 72C1-664.56 có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh 5,9,10,13,14 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết cong, trượt xước kim loại đầu cần đạp số; dấu vết trượt xước màu đen và trượt xước kim loại tại mặt trước khung kim loại gác để chân trước bên trái (gác để chân không có ốp cao su) ở xe mô tô biển số 72C1-427.18 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (ảnh 6,11,12,15 trong bản ảnh giám định).

- Dấu vết vỡ, thủng, trượt xước tại mặt trước và ngoài vỏ động cơ ở xe mô tô biển số 72C1-664.56 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (ảnh 5,16,17 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại tại mặt trước đầu kim loại gác để chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-427.18 có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh 6,18 trong bản ảnh giám định).

- Vị trí va chạm đầu tiên ở xe mô tô biển số 72C1-664.56 là mặt trước tay phanh bên trái; vị trí va chạm đầu tiên ở xe mô tô biển số 72C1-427.18 là mặt trước và mặt ngoài đầu tay lái bên trái.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 404/PC09-Đ2-PY ngày 10/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận đối với Nguyễn Hữu K như sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Sây sát da trán phải, tróc vảy, nền khô, kích thước 4cm x 1,5cm. Tụ máu dưới da đầu trán phải. Tụ máu trong cơ thái dương phải. Nứt sọ trán thái dương phải dài 8cm. Nứt sọ thái dương phải kéo dài vào sàn sọ giữa dài 4cm. Não phù nặng. Tụ máu dưới màng cứng thuỳ thái dương- đỉnh phải. Máu tụ quanh liềm tiểu não phải. Xuất huyết rải rác nhu mô não bán cầu phải.

- Nguyên nhân chết: Nguyễn Hữu K chết do chấn thương sọ não (Nứt sọ, phù não, tụ máu não, xuất huyết não).

- Vật tác động gây chấn thương là do vật tày diện tiếp xúc rộng tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân hướng từ phải qua trái, chếch từ trước ra sau.

Nguyên nhân vụ tai nạn:

- Bị cáo Lê Thị B điều khiển xe mô tô biển số 72C1-427.18, xe lưu thông ngược chiều trên đường 2/9 phần đường dành cho xe mô tô có biển báo “ Cấm đi ngược chiều” vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định” dẫn đến việc va chạm với xe mô tô biển số 72C1-664.56 do anh Nguyễn Hữu K đang điều khiển lưu thông đúng phần đường quy định. Hậu quả là anh Khánh tử vong tại bệnh viện Phục hồi chức năng TP.HCM ngày 13-11-2019 sau quá trình điều trị chấn thương do tai nạn giao thông trên.

- Đối với anh Nguyễn Hữu Khánh điều khiển xe mô tô biển số 72C1-664.56: Cơ quan điều tra qua xác minh, căn cứ vào hồ sơ bệnh án của Nguyễn Hữu K tại Bệnh viện Bà Rịa, Tp.Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tại thời điểm ngay sau khi xảy ra tai nạn xác định: Anh K điều khiển xe mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép (236,87mg/100ml), vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ;

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra xác định:

- Xe mô tô biển số 72C1-427.18, có giấy chứng nhận đăng ký xe số 075332 do Công an Tp.Vũng Tàu cấp ngày 25-6-2019 (đăng ký lần đầu ngày 11-09-2013) mang tên chủ xe là Trần Hưng K, địa chỉ 5 đường B, phường N, Tp.Vũng Tàu, anh K là chồng của bị cáo Lê Thị B.

- Xe mô tô biển số: 72C1-664.56, chủ xe mang tên Lê Thị M, địa chỉ 44 đường T, phường N, Tp.Vũng Tàu. Nạn nhân Nguyễn Hữu K là chồng của chị Lê Thị M, theo chị M trình bày anh K không có giấy phép lái xe. Tại trước thời điểm xảy ra tai nạn, chị M có để xe trên ở nhà sau đó anh K tự ý lấy xe đi dẫn đến việc bị tai nạn giao thông dẫn đến tử vong.

Bị cáo Lê Thị B có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, B2 số 771138007688 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 30/12/2015.

Về thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và giấy tờ xe mô tô 72C1-427.18, 72C1-664.56 cho bị cáo Lê Thị B và chị Lê Thị M.

Về dân sự trong vụ án: Đại diện gia đình bị hại và bị cáo đã thoả thuận xong về bồi thường thiệt hại. Chị Lê Thị M là vợ nạn nhân Nguyễn Hữu K đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo Lê Thị B.

Bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 19-3-2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Lê Thị B, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Thị B đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình. Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Lê Thị B, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị B từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng; về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị B đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 22giờ 00phút ngày 27-10-2019, bị cáo Lê Thị B điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển số 72C1-427.18 lưu thông ngược chiều trên phần đường dành cho xe mô tô có biển báo “Cấm đi ngược chiều” đường 2/9 theo hướng đi Vòng xoay Tượng đài dầu khí đến Vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh, khi đi được một đoạn đến khu vực trước nhà 565D đã gây tai nạn với xe mô tô hiệu Airblade biển số 72C1-664.56 lưu thông đúng chiều trên đường 2/9 do anh Nguyễn Hữu K điều khiển theo hướng đi từ vòng xoay Nguyễn Hữu Cảnh về vòng xoay Tượng đài dầu khí. Hậu quả: Anh K bị chết, bị cáo bị xây xát nhẹ. Như vậy, nguyên nhân xẩy ra tai nạn là do lỗi của bị cáo, bị cáo lưu thông ngược chiều trên phần đường dành cho xe mô tô có biển báo “ Cấm đi ngược chiều” vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị B đủ dấu hiệu cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã được cấp giấy phép lái, nhưng thực hiện không đúng về việc điều khiển xe tham gia giao thông, lưu thông ngược chiều, không đảm bảo an toàn gây tai nạn, tuy bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi của bị cáo đã làm 01 người chết, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự công cộng, an toàn giao thông tại địa phương và xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm xã hội. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn bãi nại cho là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Bị cáo Lê Thị B có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo nên xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo. Vì vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị B 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 14-5-2020).

Giao bị cáo Lê Thị B cho Ủy ban nhân dân phường Nguyễn An Ninh, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; Nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Về án phí: Bị cáo Lê Thị B phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ