vanban.org

Quyết định 79/2019/Q§-TA

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 22/02/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên đối với:

Họ và tên: Lê Ngọc Ch; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/6/1983 Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 21, phường G, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sè: 79/2019/Q§-TA
QuyÕt ®Þnh
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
-Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Trần Thị Minh Hải
-Thư ký phiên họp: Bà Ma Thị Huyền Nhung
Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp
số 52/QĐ-TA ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Lê Ngọc Ch; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/6/1983
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12;
Nguyên; Nghề nghiệp: Công nhân may TNG Sông Công, Thái Nguyên; Tiền
án: 0,Tiền sự: 01; Con ông: Lê Ngọc D và bà Lê Thị T.(Có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
trưởng phòng, Phòng lao động Thương binh và Xã hội TP Thái Nguyên.
Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 02 năm 2019
Ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc Ch, Bản tường trình của Lê Ngọc Ch như sau: Bản thân Ch bị nghiện ma túy từ năm 2001, đến nay Ch vẫn nghiện ma túy. Ngày 18/01/2019 là ngày gần đây nhất Ch đi mua ma túy và sử dụng cho bản thân, ngày 18/01/2019 Công an phường G, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy trái phép. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của trạm y tế phường G, thành phố Thái Nguyên , tỉnh Thái Nguyên xác định tình trạng nghiện chất ma túy đối với Lê Ngọc Ch ngày 18/01/2019 đã xác định Lê Ngọc Ch nghiện chất ma túy Heroine/ Morphine.

Ngày 24/6/2017 UBND phường G, thành phố Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Tại công văn số 81/LĐTB&XH ngày 28 tháng 01 năm 2019 Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thái Nguyên đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc Ch. Tại phiên họp hôm nay, Đại diện phòng LĐTB-XH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc Ch tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên thời hạn 12 đến 15 (mười hai đến mười lăm) tháng.

Tại phiên họp hôm nay, người bị đề nghị là anh Lê Ngọc Ch có ý kiến: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng, bản thân Ch nghiện ma túy từ năm 2001 đến nay vẫn chưa cai được. Quá trình lập hồ sơ Ch đã được thông báo và được đọc hồ sơ. Tại phiên họp hôm nay Lê Ngọc Ch nhất trí sẽ chấp hành việc đi cai nghiện. Đề nghị hội đồng xem xét áp dụng thời gian cai nghiện thấp nhất đối với anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên có ý kiến về quá trình xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Ngọc Ch: Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên họp thấy có đủ cơ sở để khẳng định Lê Ngọc Ch là người nghiện chất ma túy đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường mà vẫn còn nghiện. Quá trình lập hồ sơ, Cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định hướng dẫn. Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán giải quyết đã tuân thủ theo đúng các quy định của Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 8,9,11,12,13 Nghị định số 221 ngày 30/12/2013 của Chính Phủ; Điều 9 Nghị định 136/NĐ-CP ngày 9/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số Điều của nghị định 221; khoản 1 Điều 3, các Điều 23, 29, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014 của UBTV Quốc hội 13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án thành phố Thái Nguyên giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc Ch thời hạn 15 ( Mười lăm) tháng tại Cơ sở tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên.

XÉT THẤY

Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc Ch thì thấy:

- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc Ch thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng

LĐTBXH thành phố Thái Nguyên đối với Lê Ngọc Ch được lập trong thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 4 Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ và Nghị định 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thấy: Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của trạm y tế phường G, thành phố Thái Nguyên xác định tình trạng nghiện chất ma túy đối với Lê Ngọc Ch ngày 18/01/2019 đã xác định Lê Ngọc Ch nghiện chất ma túy Heroine, Morphine.

Ngày 24/6/2017 UBND phường G, thành phố Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định Lê Ngọc Ch là: “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện”. Phòng lao động thương binh và xã hội TP Thái Nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc Ch là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 96 và khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những đánh giá trên:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 23; Điều 29; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013;

Căn cứ Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ đề nghị của Phòng Lao động thương binh xã hội thành phốThái Nguyên, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phốThái Nguyên;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên đối với:

Họ và tên: Lê Ngọc Ch; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/6/1983

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 21, phường G, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên;

2.Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi sơ sở cai nghiện bắt buộc.

3.Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ

quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án. Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4.Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến

nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Thái Nguyên chủ

trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở Tư vấn và Điều trị, Cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ