vanban.org

Quyết định 78/2024/QĐ-TA

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 25/12/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội; địa chỉ: Xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày anh T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 09/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 78/2024/QĐ-TAG, ngày 25 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Hương.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Huyền Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 73/2024/QĐ-TA ngày 19 tháng 12 năm 2024, đối với người bị đề nghị:

T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1990; Giới tính: Nam; Căn cước công dân: 034090016873; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi thường trú: tổ dân phố 5 thị trấn A, huyện B, tỉnh Thái Bình; Nơi tạm trú: tổ 6 KĐT K, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Con ông N và con bà P. Về nhân thân: 02 tiền án năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội Cướp tài sản, ra trại ngày 23/8/2010 và năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản ra trại ngày 06/01/2012; 01 tiền sự năm 2013 bị công an phường N, quận T, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. T hiện đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội địa chỉ tại xã H, huyện S, thành phố Hà Nội từ ngày 09/12/2024.

Người bị đề nghị T vắng mặt tại phiên họp có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh; chức vụ: Chuyên viên; Theo Giấy ủy quyền số 03/LĐTBXH ngày 24/12/2024 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Trần Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:

Ngày 09/12/2024, anh T thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã D, huyện G, thành phố Hà Nội tiến hành xét nghiệm ma túy bằng hình thức xét nghiệm nước tiểu, kết quả anh T dương tính với chất ma túy Mop. Anh T đã làm đơn đề nghị Trạm y tế xã D xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T.

Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 09/12/2024 của Trạm y tế xã D, huyện G kết luận anh T có nghiện ma túy là Heroin.

Tại bản tường trình, anh T thừa nhận nghiện ma túy từ năm 2010 đến nay, lần sử dụng chất ma túy gần nhất là ngày 08/12/2024 và tự nguyện viết đơn không đăng ký cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện thay thế. Do đó, Ủy ban nhân dân xã D đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 09/12/2024.

Ngày 09/12/2024, chị N là vợ của anh T có văn bản không đồng ý quản lý anh T trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, Chủ tịch UBND xã D, huyện G, thành phố Hà Nội quyết định đưa anh T vào cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội để quản lý có thời hạn trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 12/12/2024, công an xã D đã ban hành Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Ngày 16/12/2024, Ủy ban nhân dân xã D đã ban hành văn bản đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Ngày 18/12/2024, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện G đã ban hành văn bản số 487/ĐN- CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Tại phiên họp hôm nay:

Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có ý kiến: Đề nghị Toà án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T, thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội.

Người bị đề nghị là anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp thể hiện quan điểm giữ nguyên lời khai đã có trong hồ sơ và đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân huyện G thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T, với thời hạn từ 16 tháng đến 20 tháng kể từ ngày anh T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 09/12/2024.

XÉT THẤY:

[1] Về thẩm quyền của Tòa án: Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G, thành phố Hà Nội chuyển hồ sơ đề nghị xem xét đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Tòa án nhân dân huyện G có thẩm quyền xem xét theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

[2] Về tính hợp pháp của hồ sơ:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là phù hợp với quy định tại các điều 95, 96, 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và các điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021. Hồ sơ đã được Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G, thành phố Hà Nội kiểm tra và xác định hồ sơ hợp lệ

Ngày 08/12/2024 anh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tính đến thời điểm Tòa án mở phiên họp là trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Anh T đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Do đó, anh T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:

- Tình tiết tăng nặng: anh T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Tình tiết giảm nhẹ: T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

- Về nhân thân: T thừa nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2010, đã từng có 02 tiền án, từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng đến nay vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy cho thấy T có nhân thân không tốt.

- Về mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: anh T biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật.

Từ những căn cứ trên, thấy đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tại phiên họp phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Căn cứ các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Các Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48 và Điều 49 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Các Điều 3, 20, 21, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội; địa chỉ: Xã H, huyện S, thành phố Hà Nội.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày anh T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 09/12/2024.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này, anh T được quyền khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định này được công bố, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G.

Anh T khiếu nại thì phải gửi đơn đến Tòa án đã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G kháng nghị bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án đã xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G, Công an huyện G, Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Hà Nội, các cơ quan liên quan và anh T thi hành quyết định này./.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ