vanban.org

Quyết định 77/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Phạm Văn T. Cơ sở tiếp nhận ban đầu là Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Văn T"
  • Tòa quyết gì? [1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 77/QĐ-TAThủ Đức, ngày 12 tháng 3 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Ngọc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ

Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 12 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 thuộc Sở

Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành phiên họp xem xét,

quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo

Quyết định mở phiên họp số 71/2018/QĐ-TA ngày 07 tháng 3 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nguyên quán: xã G,

huyện G, tỉnh Nam Định; Hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã N, huyện C, tỉnh Đăk

Nông;

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: không; Tiền án: không; Tiền sự: 01 (bị xử phạt vi phạm hành

chính về sử dụng trái phép chất ma túy); Con ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị H.

(ông Phạm Văn T có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động Thương binh vaø Xã hội quận

Thủ Đức: Ông Lý Hồ Nhựt H – Chức vụ: Chuyên viên

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 16/12/2017, Công an phường Hiệp Bình Phước,

quận Thủ Đức phát hiện ông Phạm Văn T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy

nên phối hợp với Trạm y tế phường xét nghiệm chất ma túy đối với ông Phạm Văn T,

kết quả ông T dương tính với chất morphin nên đã lập biên bản vi phạm hành chính để

xử lý theo qui định của pháp luật.

Ngày 05/3/2018, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức đã có văn

bản số 229/LĐTB đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa ông Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn (trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).

Tại phiên họp: Đại diện của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ

Đức vẫn giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T trong thời gian 18-21 tháng, vì ông T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ông Phạm Văn T có ý kiến: Hiện ông không có nơi cư trú ổn định. Ông thừa

nhận có sử dụng ma túy từ tháng 01 năm 2016 đến nay. Lần cuối ông sử dụng ma túy là ngày 14/12/2017, loại ma túy mà ông sử dụng là heroin. Ngày 16/12/2017 thì bị công an phường Hiệp Bình Phước phát hiện và lập biên bản, tạm giữ để xử lý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý

kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo luật định. Tại phiên họp Chủ tọa đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Về nội dung đề nghị chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh Xã hội quận Thủ Đức.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại

phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, có cơ sở xác định:

Ông Phạm Văn T đã có hành vi vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép

chất ma túy, đã bị Công an phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện vào ngày 16/12/2017. Ngày 21/12/2017 cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh kết luận ông Phạm Văn T nghiện heroin. Ngày 31/01/2018 công an xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông xác định ông Phạm Văn T có hộ khẩu thường trú tại Thôn M, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông, tuy nhiên thường vắng mặt tại địa phương, từ tháng 9/2017 ông T bỏ đi đâu không rõ cho đến nay. Ông T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị công an xã N ra quyết định xử phạt theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 14/3/2016.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với ông Phạm Văn T đã được cơ quan chức năng thực hiện đúng theo trình tự thủ tục được qui định tại Khoản 2 Điều 3, Điều 4, Khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ qui định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy của ông Phạm

Văn T là một tệ nạn xã hội, không những trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của bản

thân, gây thiệt hại vật chất, tinh thần của người thân, mà còn là một hệ lụy mà cộng

đồng và xã hội phải gánh chịu, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm như

trộm cắp, cướp giật, lừa đảo ... Nhà nước đã có nhiều chính sách, pháp luật, biện pháp

ngăn chặn, bài trừ tệ nạn ma túy, nhưng chưa kéo giảm, thậm chí còn có chiều hướng

gia tăng. Căn cứ vào Phiếu xác minh về việc nghiện ma túy do Cơ sở xã hội Thanh

thiếu niên 2 thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh xác

định ông Phạm Văn T bị nghiện heroin, ông T thừa nhận có sử dụng ma túy từ năm

2016 đến nay và đã bị Công an xã Nam Dong, huyện Cư Jút xử phạt vi phạm hành

chính do sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T với thời gian 18 tháng để

giúp đương sự cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình

và xã hội.

Về ý kiến của người đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai

nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ các điều 95, 96,105,106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Căn cứ Khoản 2 Điều 3, Điều 4, Khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 11, Điều 12

Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Căn cứ Khoản 1 Điều 9, Khoản 2 Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31,

Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm

phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về

xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

[1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Phạm Văn T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn

(trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: xã

Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám)

tháng, kể từ ngày ông Phạm Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc,

cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên

quan biết.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Phòng Lao động – Thương binh

và Xã hội quận Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Ông Phạm Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.[

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ

Đức; Công an quận Thủ Đức và Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn (trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

Cỡ chữ