vanban.org

Quyết định 77/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 17/11/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Trí N, sinh năm 1983; nơi đăng ký thường trú: Tổ 04, ấp V, xã G, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Trí T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 77/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Tâm.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An

Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành

chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 84/QĐ-

TA ngày 12 tháng 11 năm 2020 đối với:

Nguyễn Trí N, sinh năm 1983; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký thường trú: Tổ 04, ấp V, xã G, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở

hiện nay: không có nơi cư trú ổn định;

Nghề nghiệp: Không;

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Phật

Trình độ văn hóa: 10/12;

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Nguyễn Trí D (chết) và bà Ngô Xuân K.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố C; là đại diện theo ủy quyền.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C tham gia phiên họp: Ông

Nguyễn Thành Thái – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 08/10/2020, Ngô Nguyễn Trí N bị công an phường S, thành phố C

đưa đi xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể N, kết quả dương tính

Methamphetamin và Morphin. N cũng thừa nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Công an phường S, thành phố C lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với N.

Theo kết quả xác minh ngày 08/10/2020 tại khóm T, phường S, thành phố C,

tỉnh An Giang và kết quả xác minh ngày 09/10/2020 tại Công an xã G, thị xã T, tỉnh An Giang cho biết: N không có đăng ký thường trú, tạm trú hay đang lưu trú trên địa bàn khóm T; N có đăng ký thường trú tại tổ 4, ấp V, xã G, thị xã T, tỉnh An Giang nhưng từ đầu năm 2020, N đã bỏ địa phương đi cho đến nay.

Ngày 08/10/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, thành phố K ban

hành Quyết định 416/QĐ-UBND về việc giao cho cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.

Ngày 17/10/2020, Công an phường S, thành phố C ban hành Đề nghị số

355/ĐN-CAP đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trí N, nhằm giúp đỡ N có cơ hội cai nghiện, học nghề.

Theo Thông báo số 83/TB-PTP ngày 06/11/2020, Phòng Tư pháp thành

phố C đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với N bảo đảm về tính pháp lý.

Ngày 11/11/2020, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành

văn bản số 79/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trí N với thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố C giữ

nguyên quan điểm đề nghị.

- Nguyễn Trí N thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy như hồ sơ thể

hiện và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.

- Đại diện Viện Kiểm sát thành phố C tham gia phiên họp phát biểu quan

điểm: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

Căn cứ công văn đề nghị số 79 ngày 11/11/2020 của Phòng Lao động -

Thương binh và Xã hội thành phố C thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố C theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09 ngày 20/01/2014. N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối ngày 08/10/2020, Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Nguyễn Trí N, sinh năm 1983 là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, không

có nơi cư trú ổn định, nên đề nghị đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ

điều kiện quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố C chấp nhận đề nghị của Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Văn Tùng.

XÉT THẤY:

* Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C

đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

* Về nội dung:

Lời khai nhận của Nguyễn Trí N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

là phù hợp với kết quả xét nghiệm và biên bản vi phạm hành chính do Công an

phường S, thành phố C lập ngày 08/10/2020.

Kết quả xác minh tình trạng cư trú của Nguyễn Trí N được xác định:

Nguyễn Trí N, sinh năm 1983 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 04, ấp V, xã

G, thị xã T, tỉnh An Giang. Từ đầu năm 2020 cho đến nay N không thường

xuyên sinh sống tại địa phương mà bỏ địa phương đi đâu không rõ, làm gì ở đâu.

Đồng thời, N không sinh sống, không đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú

tại khu vực khóm T, phường S, thành phố C, tỉnh An Giang.

Việc N sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường S phát hiện và

N cũng không chứng minh được việc thường xuyên sinh sống tại Tổ 04, ấp V,

xã G, thị xã T, tỉnh An Giang. Từ đó, N được xem là không có nơi cư trú ổn

định.

Xét, N đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có

nơi cư trú ổn định. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố

C đề nghị đưa Tùng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định

tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân : N có thái độ thành khẩn

khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành

chính năm 2012. Cho nên, cần xét giảm nhẹ cho N khi quyết định thời hạn áp

dụng biện pháp xử lý hành chính. Ngoài ra, N không có tiền án, tiền sự nhưng có

nhân thân xấu. N sử dụng ma túy trong thời gian dài, từ năm 2008. Ngày

05/8/2008, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang ra Quyết định số 3656/QĐ-

UB áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc đối

với N, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong. Qua quá trình được điều trị bệnh,

cải tạo nhưng N vẫn tiếp tục sử dụng ma túy trái phép. Xét thấy, cần áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai điều trị, cai nghiện ma túy phù

hợp để N với thời gian phù hợp để N được điều trị, cai nghiện, đào tạo, giáo dục

thành công dân tốt.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,

Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Trí N, sinh năm 1983; nơi đăng ký thường trú: Tổ 04, ấp V, xã G, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi)

tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 08 tháng 10 năm 2020).

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố C và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Nguyễn Trí N là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa

án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố C chủ trì

phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố C đưa Nguyễn Trí N vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ