vanban.org

Quyết định 77/2024/QĐ-TA

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 20/11/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh BCT.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 HN; địa chỉ: Xã M, huyện SS, thành phố HN. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày anh BCT bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 20/09/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh BCT.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
THÀNH PHỐ HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 77/2024/QĐ-TAG, ngày 20 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Minh Ngọc.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện G, thành phố HN.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 72/2024/QĐ-TA ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với người bị đề nghị:

BCT, sinh năm 1994; Số định danh cá nhân/CMND: 014094003225; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Bản X, xã M, huyện Q, tỉnh S; Chỗ ở: Lang thang, không có nơi ở cố định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông BCH, sinh năm 1967 và bà QTC, sinh năm 1968; Có vợ là LTL, sinh năm 1998 và 02 con (sinh năm 2018 và 2020) Tiền án, tiền sự: Không.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh; chức vụ: Chuyên viên; Theo Giấy ủy quyền số 77/LĐTBXH ngày 20/11/2024 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Trần Thanh Hiếu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:

Ngày 20/09/2024, anh BCT có Đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy, Đơn tự nhận là người nghiện ma túy cùng bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đơn không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tại đây, anh BCT khai nhận anh đã nghiện và sử dụng ma túy Heroine từ năm 2023, lần gần nhất sử dụng ma tuý là ngày 18/09/2024. Thực hiện xét nghiệm ma tuý đối với BCT: Theo Biên bản xét nghiệm xác định tình trạng nghiệm ma túy ngày 20/09/2024 của Trạm y tế xã LC thì BCT có nghiện ma túy MOP (Heroin). Cùng ngày, Công an xã LC và Ủy ban nhân dân xã LC đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với BCT về hành vi “là người nghiện ma túy, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy” và ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh BCT.

Ngày 14/11/2024, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có Đề nghị số 440/ĐN-CNBB, đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 HN đối với BCT.

Tại phiên họp hôm nay:

Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có ý kiến: BCT là người nghiện ma túy từ năm 2023, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy nay lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị Toà án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh BCT, thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 HN.

Người bị đề nghị là anh BCT vắng mặt tại phiên họp và có đơn trình bày: Anh sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2023, loại ma tuý thường sử dụng là Heroine, nay anh đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh BCT là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân huyện G thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 2, 3, 31, 32 và Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; áp dụng các Điều 95, 96, 103, 105, 107 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; áp dụng khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh BCT, với thời hạn từ 13 tháng đến 16 tháng kể từ ngày anh BCT bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 20/09/2024.

XÉT THẤY:

[1] Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là anh BCT có đủ tài liệu, giấy tờ, đảm bảo đúng điều kiện, trình tự, thủ tục, thời hiệu theo quy định của pháp luật.

Anh BCT vắng mặt tại phiên họp và có yêu cầu xem xét vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp vắng mặt anh BCT theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[2] Người bị đề nghị là anh BCT tự nhận mình sử dụng và nghiện ma túy loại Heroine từ năm 2023, nghề nghiệp không ổn định, lần gần nhất sử dụng ma tuý (loại Heroine) là ngày 18/09/2024. Ngày 20/09/2023, Công an xã LC, huyện G đã kiểm tra và Trung tâm y tế xã LC xét nghiệm nước tiểu, kết quả xác định anh T có nghiện ma túy Heroin. Theo Biên bản vi phạm hành chính số 21/BB-VPHC ngày 20/09/2024 của UBND xã LC, Đơn tự nhận là người nghiện ma túy và Đơn không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế của anh BCT, thể hiện: BCT là người nghiện ma túy, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy. Anh T nhận thức được việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nghiện ma túy có hại cho sức khỏe của bản thân và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội.

[3] Tổng hợp những nhận định ở trên, có cơ sở xác định: BCT là người nghiện ma túy, thời gian nghiện ma tuý đã nhiều năm, trên 18 tuổi, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy mà vẫn còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 6 và Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T trong một thời gian nhất định là cần thiết, có căn cứ pháp luật, giúp anh T cai nghiện ma túy hiệu quả để sớm tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội.

[4] Đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tại phiên họp phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Căn cứ các Điều 2, 3, 31, 32 và Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Áp dụng các Điều 95, 96, 103, 105, 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Áp dụng khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy;

Áp dụng các Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48 và Điều 49 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh BCT.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 HN; địa chỉ: Xã M, huyện SS, thành phố HN.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày anh BCT bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 20/09/2024.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này, anh BCT được quyền khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định này, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G.

Anh BCT khiếu nại thì phải gửi đơn đến Tòa án đã xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do, căn cứ khiếu nại và tài liệu bổ sung (nếu có) để chứng minh cho khiếu nại của mình.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G kháng nghị bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án đã xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G, Công an huyện G, Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 HN, các cơ quan liên quan và anh BCT thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ