- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị T và anh Đặng Xuân B xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Đặng Xuân B.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 77/2020/QĐST-HNGĐ | Sông Hinh, ngày 15 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 106/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2020, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn Hai Riêng, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Bị đơn: Anh Đặng Xuân B, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn Hai Riêng, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV Ngân hàng N.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 58, 110, 116, 118 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 12 năm 2020;
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 12 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Đặng Xuân B.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
* Về con chung: Giao cho chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung là Đặng Thị Thu H, sinh ngày 13/01/2004; Đặng Thị Thu H2, sinh ngày 19/11/2005; Đặng Xuân H3, sinh ngày 16/9/2011. Anh Đặng Xuân Bình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng cho mỗi con chung là 700.000 đồng/tháng/cháu (Bảy trăm ngàn đồng trên tháng trên một cháu), việc cấp dưỡng bắt đầu khi quyết định có hiệu lực và chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.
* Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận phân chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng và yêu cầu Toà án ghi nhận trong quyết định như sau:
- Giao cho chị Lê Thị T được toàn quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 391, tờ bản đồ số 25, diện tích 210m2, địa chỉ Khu phố T, thị trấn H, huyện S, tỉnh P, trong đó: Đất ở 100m2, đất trồng cây hàng năm khác 110m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 713780 do UBND huyện S cấp ngày 31 tháng 7 năm 2012, số vào sổ cấp GCN: CH 01105. (Thửa đất hiện đang thế chấp để bảo đảm cho khoản vay gốc 400.000.000 đồng tại Công ty TNHH MTV Ngân hàng N).
- Chị Lê Thị Thắm có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Một thành viên Ngân hàng N số nợ vay gốc là 400.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng ngày 02 tháng 6 năm 2020.
Trường hợp chị Thắm không trả nợ theo hợp đồng vay thì Công ty TNHH MTV Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 391, tờ bản đồ số 25, diện tích 210m2, địa chỉ Khu phố T, thị trấn H, huyện S, tỉnh P để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì thực hiện như trường hợp không có tài sản bảo đảm và chị Thắm vẫn có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV Ngân hàng N đến khi hết nợ.
- Chị Lê Thị T có nghĩa vụ thối lại cho anh Đặng Xuân B số tiền 89.000.000 đồng (Tám mươi chín triệu đồng).
* Về án phí:
- Chị T tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, được tính trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Thắm đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005560 ngày 01 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, chị Thắm đã nộp đủ.
- Các đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong quyết định trước khi Tòa án tiến hành hòa giải nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND huyện Sông Hinh (02); - THADS huyện Sông Hinh; - UBND thị trấn H, huyện Sông Hinh; - Lưu HS vụ án; - Lưu án văn. | THẨM PHÁN Bùi Lưu Chúc |