- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 762/2023/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 12 năm 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Diễm
2. Bà Phạm Thị Kim Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy -Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 585/TLST- HNGĐ ngày 03/10/2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 427/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 323/2023/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1974.
Bị đơn: AnhTrần Mạnh C, sinh năm 1973.
Cùng nơi thường trú: Số 15A, ngõ 103 Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
(Chị H có mặt, anh C vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/9/2023 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích H trình bày:
Chị và anh Trần Mạnh C có tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 15/05/1997 tại UBND phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại số 15A ngõ 103 Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, đây là nhà chung của anh chị.
Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mẫu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh C không đóng góp tiền nuôi con chung, hay say rượu về đập phá, chửi bới.
Anh C thường xuyên chửi bới chị, thường xuyên đập phá đồ đạc trong nhà, có lần khoảng một giờ sáng anh C say rượu về đập phá đồ đạc chị phải báo cảnh sát khu vực đến giải quyết.
Sau khi mời cảnh sát đến giải quyết anh C vẫn không thay đổi luôn chửi bới, không tôn trọng chị, mỗi lần anh C chửi bới chị rất lâu (từ ba đến năm tiếng) khiến tinh thần chị căng thẳng. Chị thường xuyên phải ra khách sạn ngủ qua đêm để tránh mặt anh C do anh C thường giật cửa phòng chị, thậm chí có những lúc quá căng thẳng chị phải rời nhà đi vài ngày để tránh mặt anh C.
Chị và anh C ở chung nhà nhưng đã ly thân từ năm 2018 không ngủ chung, và không quan tâm đến nhau nữa, chị không còn tình cảm nên không muốn tiếp xúc với anh C.
Anh C không chỉ đập phá đồ đạc trong nhà, chửi bới chị, không làm tròn trách nhiệm người chồng mà còn không quan tâm đến việc chu cấp để nuôi con chung, trong quá trình các con chị đi học từ bé đến khi học đại học và nay con lớn của anh chị đã ra trường nhưng anh C chưa từng chu cấp học phí cho cả hai con.
Vấn đề tài chính trong nhà từ ăn, ở, đi lại đều là chị tự gánh vác, trước khi có mâu thuẫn chị luôn lo lắng chu toàn cho anh C và hai bên gia đình.
Mâu thuẫn của vợ chồng, hàng xóm và tổ dân phố không biết vì chị và anh C không nhờ tổ dân phố hay Hội phụ nữ phường can thiệp.
Chị nhận thấy vợ chồng không còn tiếng nói, thường xuyên cãi nhau, không còn hòa hợp, không còn tình cảm nên quyết định xin ly hôn anh C. Trong tháng 9 năm 2023 chị và anh C đã ký đơn thuận tình ly hôn, sau đó chị nộp đơn đến Tòa án Ba Đình nhưng anh C không đồng ý nữa nên chị làm đơn đơn phương ly hôn anh C, nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án cho chị ly hôn anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Trần Phương Hà, sinh ngày 28/7/1997 và Trần Nam Anh, sinh ngày 07/3/2003. Các con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Chị và anh C không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trần Mạnh C: Được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên anh C không đến Tòa án nên không có lời khai của anh C.
Tại phiên tòa:
Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh C.
Anh C vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh C đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H ly hôn anh C.
Các con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Chị H phải chịu án phí không giá ngạch theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về việc vắng mặt đương sự:
Anh Trần Mạnh C đã được tống đạt hợp lệ phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh C vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, việc vắng mặt của anh C được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra ý kiến chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Chị Nguyễn Thị Bích H và anh Trần Mạnh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 15/05/1997. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh C chị H không có tiếng nói chung. Hai bên đã cùng làm đơn xin thuận tình ly hôn gửi đến Tòa án sau đó anh C không đến Tòa án nên chị H làm đơn xin ly hôn anh C. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo anh C đến Tòa án nhưng đều vắng mặt do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Xét thấy, cuộc hôn nhân của chị H và anh C không có khả năng hàn gắn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H ly hôn anh C.
Về con chung: Chị H và anh C có 02 con chung là Trần Phương Hà, sinh ngày 28/7/1997 và Trần Nam Anh, sinh ngày 07/3/2003. Các con chung đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản và nhà ở: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 56, 58; 59 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng các Điều 28; 144; 147; 227; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích H.
Chị Nguyễn Thị Bích H ly hôn anh Trần Mạnh C.
2, Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích H và anh Trần Mạnh C có 02 con chung là Trần Phương Hà, sinh ngày 28/7/1997 và Trần Nam Anh, sinh ngày 07/3/2003. Các con chung đã trưởng thành Tòa án không xem xét.
3, Về tài sản và nhà ở: Chị Nguyễn Thị Bích H và anh Trần Mạnh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
4, Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008257 ngày 02/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
Chị Nguyễn Thị Bích H có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Trần Mạnh C vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND quận Ba Đình; - Chi cục THA DS quận Ba Đình; - TAND TP. Hà Nội; - UBND phường Kim Mã; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) |