vanban.org

Quyết định 74/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông A và bà B.

Ra thông báo tìm kiếm anh P, sinh năm 1977 và chị L, sinh năm 1981 vắng mặt tại nơi cư trú tại: Khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang. Công bố tìm kiếm anh P và chị L vắng mặt tại nơi cư trú bằng cách đăng trên báo hàng ngày của báo Trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cu trú giữa ông A với anh P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông A và bà B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 381 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 74/2018/QĐDS-ST
Ngày: 03-04-2018
V/v: Thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY – TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Ngọc Hải – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Cẩm Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 04 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2018/TLST-VDS ngày 02 tháng 03 năm 2018 về yêu cầu: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2018/QĐST-VDS ngày 19 tháng 3 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1.1 Ông A, sinh năm 1939;

1.2 Bà B, sinh năm 1941;

Cùng cư trú tại: Khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông C, sinh năm 1968 (có mặt);

Cư trú tại: Khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 27 tháng 3 năm 2018)

2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Theo đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, người yêu cầu ông A và bà B trình bày: Ông A và bà B có đơn yêu cầu chia tài sản thi hành án đối với anh P, sinh năm 1977 và vợ anh P là chị L, sinh năm 1981 cùng có hộ khẩu thường trú tại: Khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang. Vợ chồng anh P và chị L đã bỏ địa phương đi từ năm 2012, đến nay không trở về địa phương, ông bà đã tìm mọi cách liên lạc nhưng không gặp.

Nay ông A và bà B yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh P, sinh năm 1977 và chị L, sinh năm 1981, cùng trú tại: Khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, nhận định:

- Tại đơn đề nghị xác nhận ngày 22 tháng 02 năm 2018, Công an Thị trấn D xác nhận anh P, sinh năm 1977 và chị L, sinh năm 1981 có thường trú tại hộ khẩu số 3538, khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang là đúng. Do đó, có cơ sở để Tòa án xác định anh P, sinh năm 1977 và chị L, sinh năm 1981 có hộ khẩu thường trú tại hộ khẩu thường trú tại hộ khẩu số 3538, khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang.

- Căn cứ đơn yêu cầu của ông A và bà B và lời khai của ông C là đại diện theo ủy quyền của ông A và bà B tại phiên họp thì đến thời điểm Tòa án mở phiên họp, anh cũng không biết anh P và chị L đang ở đâu, không liên lạc được. Anh cũng không biết cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khác, biết địa chỉ liên hệ, tin tức về anh P và chị L mà ông A và bà B đang tìm kiếm.

- Theo kết quả xác minh của Tòa án ngày 19 tháng 3 năm 2018, Công an Thị trấn D xác nhận:“Anh P và chị L đã vắng mặt tại địa phương thời gian L tục từ năm 2012 cho đến nay, hiện không xác định được ở đâu, không có đăng ký tạm vắng tại địa phương”.

Như vậy, có đủ cơ sở để chứng minh rằng anh P và chị L đã biệt tích hơn sáu tháng liền trở lên và đơn yêu cầu của ông A và bà B về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là có căn cứ cần được chấp nhận.

- Ông A và bà B không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh P và chị L nên không xem xét.

- Do không tìm được biện pháp liên lạc anh P và chị L được nên ông A và bà B yêu cầu Tòa án công bố thông báo tìm kiếm anh P và chị L vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định tại Điều 64 Bộ Luật dân sự năm 2015 và Điều 381, 385 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có cơ sở nên được Tòa án chấp nhận.

- Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông A và bà B.

- Lệ phí Tòa án giải quyết việc dân sự: Ông A và bà B là người cao tuổi theo luật người cao tuổi nên được miễn lệ phí theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 64 Bộ Luật dân sự; các Điều 27, 381, 382, 383, 384, 385, 386 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông A và bà B.

Ra thông báo tìm kiếm anh P, sinh năm 1977 và chị L, sinh năm 1981 vắng mặt tại nơi cư trú tại: Khu phố không số, thị trấn D, huyện H, tỉnh Tiền Giang. Công bố tìm kiếm anh P và chị L vắng mặt tại nơi cư trú bằng cách đăng trên báo hàng ngày của báo Trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.

2. Về lệ phí: Ông A và bà B là người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi nên được miễn lệ phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ