vanban.org

Quyết định 734/2024/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 01/2013 đăng ký ngày 17/5/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 734/2024/QĐST-HNGĐBình Chánh, ngày 16 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ vào Điều 212, 213 và khoản 4 Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 640/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Ông Bùi Văn H, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Số C Khối X, Căn hộ chung M, Khu nhà ở N, ấp G, xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Đào Thị T, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Số C Khối X, Căn hộ chung M, Khu nhà ở N, ấp G, xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại biên bản hoà giải đoàn tụ không thành ngày 08 tháng 8 năm 2024, ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T thật sự tự nguyện ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ các vấn đề về con chung, tài sản chung và nợ chung.

Xét việc thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T thuận tình ly hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn số 50, quyển số 01/2013 đăng ký ngày 17/5/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T đều xác nhận có 02 (hai) con chung là trẻ Bùi Bích V, sinh ngày: 30/3/2014 và Bùi Tú L, sinh ngày: 17/10/2019. Khi ly hôn, ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T cùng thống nhất giao trẻ Bùi Bích V và trẻ Bùi Tú L bà Đào Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Bùi Văn H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi trẻ Bùi Bích V và trẻ Bùi Tú L mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) cho mỗi trẻ. Tổng cộng ông Bùi Văn H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Ông Bùi Văn H thực hiện việc giao và nhận tiền cấp dưỡng nuôi con vào ngày 01 hàng tháng tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền, thời gian bắt đầu thực hiện từ ngày 01/9/2024 cho đến khi trẻ Bùi Bích V và trẻ Bùi Tú L thành niên.

Trường hợp ông Bùi Văn H không thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con theo thỏa thuận thì bà Đào Thị T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành việc ông Bùi Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Kể từ khi bà Đào Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bùi Văn H chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì ông Bùi Văn H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất được tính theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông Bùi Văn H có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T đều xác nhận không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về lệ phí Tòa án: Ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005807 ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Bùi Văn H và bà Đào Thị T đã nộp đủ lệ phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ