vanban.org

Quyết định 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Trịnh Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Vĩnh T. Về con chung: Bà Trịnh Thị M có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu Nguyễn Trịnh Bảo C–sinh ngày 20/9/2014 và Nguyễn Trịnh Minh Q–sinh ngày 10/11/2018. Ông Nguyễn Vĩnh T không phải cấp dưỡng nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2023
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Minh.

2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh NINH THUẬN.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương –Kiểm sát viên.

Ngày 28/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 38/2023/TLST-HNGĐ, ngày 23/02/2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 14/7/2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị M– sinh năm:1988 (có mặt)

-Bị đơn: Ông Nguyễn Vĩnh T – sinh năm: 1986 (vắng mặt)

Cùng trú tại: Khu phố x, thị trấn P, huyện N, NINH THUẬN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Thị M trình bày: Bà và ông Nguyễn Vĩnh T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND thị trấn P, huyện N. Sau khi cưới vợ chồng sống cùng cha mẹ ông T được 01 năm thì vợ chồng ra sống riêng cũng ở tại Khu phố x, thị trấn P. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường hay xảy ra cải vả, ông T không lo làm ăn, không quan tâm gia đình. Từ cuối năm 2022 cho đến nay bà và ông T đã sống ly thân không quan tâm gì đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông T. Bà và ông T có 02 người con chung tên Nguyễn Trịnh Bảo C–sinh ngày 20/9/2014 và Nguyễn Trịnh Minh Q–sinh ngày 10/11/2018, trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân, các con sống cùng với bà, ông T không quan tâm đến con và cũng không chu cấp tiền nuôi con. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Vĩnh T: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.

Chính quyền địa phương khu phố x, thị trấn P, huyện N, tỉnh NINH THUẬN-nơi ông T và bà M có hộ khẩu thường trú xác nhận: Quá trình ông T, bà M chung sống hay xảy ra cải vả, vợ chồng hiện không còn chung sống với nhau. Ông T hiện không có mặt tại địa phương, nhưng thỉnh thoảng ông T có về nhà cha mẹ ông T tại khu phố x-P ở được 3-4 ngày rồi lại đi tiếp.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Trịnh Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Vĩnh T. Về con chung có 02 người con nên giao cho bà M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà M không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí bà M phải chịu theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bà Trịnh Thị M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Nguyễn Vĩnh T, yêu cầu được nuôi dưỡng các con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh NINH THUẬN.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Vĩnh T vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị M và ông Nguyễn Vĩnh T tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 288/2012, quyển số 01, ngày 27/11/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay, không quan tâm nhau.

Xét thấy hôn nhân của giữa bà M và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M.

Về con chung: Bà M và ông T có 02 người con chung tên Nguyễn Trịnh Bảo C– sinh ngày 20/9/2014 và Nguyễn Trịnh Minh Q–sinh ngày 10/11/2018. Hiện các con đang sống cùng với bà M. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông T vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà M, từ khi vợ chồng sống ly thân chính bà M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con.

Xét thấy, hiện các con đang sống cùng với bà M và bà M chăm sóc con tốt, ông T không quan tâm đến con và cũng không chu cấp tiền nuôi con. Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao các con cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Bà M phải chịu án phí 300.000đ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.Về hôn nhân: Bà Trịnh Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Vĩnh T.

2.Về con chung: Bà Trịnh Thị M có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu Nguyễn Trịnh Bảo C–sinh ngày 20/9/2014 và Nguyễn Trịnh Minh Q–sinh ngày 10/11/2018. Ông Nguyễn Vĩnh T không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4.Về án phí: Bà Trịnh Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002967 ngày 22/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh NINH THUẬN. Bà Trịnh Thị M đã nộp đủ án phí.

5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ