vanban.org

Quyết định 73/2018/QĐ-TA

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/04/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương T A.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14(mười bốn) tháng, kể từ ngày Dương T A bị tạm giữ để đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố M có quyền kiến nghị, Viện Kiểm Sát nhân dân Thành phố M có quyền kháng nghị đối với quyết định này tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Xử lý hành chính tại Toà án"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương T A.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TH NH H C M U
TỈNH C M U

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 73/2018/QĐ-TATP. Cà Mau, ngày 02 tháng 4 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

T ÁN NH N N TH NH H C M U, TỈNH C M U

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thuý Kiều

Ngày 02 tháng 4 năm 2018, tại Toà án nhân dân Tp.Cà Mau, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 73/2018/QĐ-TA ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với:

Họ và tên: ương T A

Giới tính: Nam

Sinh năm: 1982

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hoá: 9/12

Hộ khẩu thường trú: Khóm 5, phường 9, TP.M, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở: Khóm 5, phường 8, TP.M, tỉnh Cà Mau.

Tiền án: Một lần về tội trộm cắp; Tiền sự: Không.

Con ông: Dương C A và bà: Tăng T T.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và xã hội Thành Phố M, tỉnh Cà Mau do ông Nguyễn L H phó phòng đại diện theo văn bản uỷ quyền số 76/LĐTBXH ngày 28/3/2018.

2. Đại diện Viện ki m át nh n d n th nh ph C Mau t nh C Mau: Bà Lê Thị N H – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Dương T A bị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M, tỉnh Cà Mau đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi vi phạm như sau:

Ngày 22/11/2017, Dương T A bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường 1, Tp.M ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 03 tháng.

Ngày 01/02/2018 T A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường 9, Tp.M mời thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy, kết quả dương tính với chất ma túy và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/02/2018 của Trạm y tế phường 1, Tp.M xác định T A nghiện ma túy.

Kể từ ngày T A bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường đến ngày phát hiện T A tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy là 02 tháng 10 ngày. Vì vậy, Chủ tịch UBND phường 1, Tp.M ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đồng thời Quyết định giao cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M có văn bản số 101/LĐTBXH ngày 23/3/2018 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T A. Tại phiên họp ông H đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Tp.M giữ nguyên quan điểm theo văn bản đề nghị số 101/LĐTBXH ngày 23/3/2018 và đề nghị Tòa án đưa T A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến đại diện VKS nhân dân Tp.M: Toà án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T A và đề nghị Toà án chấp nhận ý kiến đề nghị của Phòng lao động thương binh xã hội Tp.M đưa T A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc .

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương T A do Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố M lập đã đúng theo trình tự, thủ tục, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại các Điều 3, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Việc Toà án triệu tập T A tham gia phiên họp được thực hiện hợp lệ, tuy nhiên T A vắng mặt không lý do, theo quy định tại khoản 2, điều 19 pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt T A là phù hợp.

Dương T A là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định, đã chấp hành trên một phần hai thời gian giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà không tiến bộ lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm nên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường 1, Tp.M ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Phòng lao động và Thương binh xã hội Thành phố M đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở chấp nhận.

Việc T A nghiện ma tuý được xem là một căn bệnh trong đó việc điều trị cắt cơn nghiện dần đưa người bệnh về tái hoà nhập cộng đồng là cần thiết, vấn đề này cần một khoảng thời gian và phải tập trung tại nơi có chuyên môn, có cán bộ chuyên ngành thường xuyên theo dõi chăm sóc, nhiệm vụ đó thuộc các trung tâm cai nghiện, vì vậy đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội Tp.M đưa T A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, Tòa án cũng xem xét đến việc T A thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm để giảm nhẹ khi xem xét áp dụng thời hạn cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 95, 96, 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương T A.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14(mười bốn) tháng, kể từ ngày Dương T A bị tạm giữ để đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố M có quyền kiến nghị, Viện Kiểm Sát nhân dân Thành phố M có quyền kháng nghị đối với quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Đối với T A có quyền khiếu nại kể từ ngày nhận Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố M, tỉnh Cà Mau phối hợp với Công an thành phố M, tỉnh Cà Mau đưa người phải thi hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ