vanban.org

Quyết định 723/2022/QĐ-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 13/10/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/10/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 772/2021/QĐST-DS ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H được miễn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn Th kiện Huỳnh Thị Ch"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 723/2022/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Minh Thịnh

Các Thẩm phán:

Ông Trần Xuân Minh

Bà Lê Thúy Cầu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 772/2021/QĐST-DS ngày 27/5/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218, khoản 1 Điều 219, khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án về việc “Tranh chấp thừa kế”, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Th (đã chết năm 2017)

Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955.

+ Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1953.

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh năm 1960.

+ Ông Nguyễn Thanh Tr, sinh năm 1961.

+ Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1963.

+ Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1955.

Người đại diện theo ủy quyền của bà D, bà Nh, ông Tr, ông T, bà Ng: Bà Nguyễn Thị H.

Địa chỉ: đường M, Phường 6, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ch, sinh năm 1937.

Địa chỉ: ấp 4, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Công B, sinh năm 1968.

Địa chỉ: ấp 4, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông Nguyễn Công K, sinh năm 1964.

Địa chỉ: D20/53 ấp 4, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Nguyễn Kim Ng, sinh năm 1957.

Địa chỉ: D16/53 ấp 4, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Nguyễn Thị Kim T (Nguyen Kim T Thi), sinh năm 1937.

Cư trú: Hoa Kỳ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Bà Nguyễn Thị H.

+ Bà Trần Thị Tr

+ Bà Trần Thị B

+ Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1966.

Cùng địa chỉ: đường H, ấp 3, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc V, sinh năm 1952.

Địa chỉ: đường A, Phường 11, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1937.

Địa chỉ: đường B, Phường 6, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo ngày 30/6/2021, bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 772/2021/QĐST-DS ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; với lý do việc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đình chỉ giải quyết vụ án do bà H không cung cấp được địa chỉ của ông Nguyễn Thanh S là không đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị H; giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối

với phần đất thuộc thửa 121, 122, 123, 124 cùng tọa lạc tại ấp 4, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn gốc các thửa đất trên thuộc Bằng khoán số 331 ngày 16/9/1938 do ông Nguyễn Văn T đứng bộ. Ông Nguyễn Văn T có vợ là bà Trần Thị H1 (đã chết) và 02 người con là Nguyễn Thị H2 và Nguyễn Văn Đ.

Bà Nguyễn Thị H2 (chết) và có 06 người con gồm: Nguyễn Thị Đ (đã chết), Nguyễn Thị K (đã chết), Nguyễn Thị Kh (đã chết), Nguyễn Thị Nh, Nguyễn Văn S (đã chết), Nguyễn Thị T (đã chết).

Ông Nguyễn Văn Đ (chết năm 1972), có vợ là bà Nguyễn Thị A (đã chết) và 05 người con gồm: Nguyễn Thị Nh1 (chết năm 2011), Nguyễn Thành B (chết năm 1957), Nguyễn Văn D (chết năm 1969), Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn Th (là nguyên đơn, chết năm 2017).

Năm 2017, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th chết. Ông Th có vợ là Bùi Thị A (chết năm 2001) và 07 người con gồm: Nguyễn Thị Kim D, Nguyễn Thị Ngọc Nh, Nguyễn Thanh Tr, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thị Ng và Nguyễn Thanh S.

Do ông Nguyễn Văn Th khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với các

thửa đất do ông Nguyễn Văn T đứng bộ; ông T chết không để lại di chúc nên việc đưa những người thuộc hàng thừa kế hợp pháp của ông T (bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn Đ) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cần thiết.

Tại Biên bản làm việc ngày 25/12/2017, ngày 27/4/2021, ngày

18/5/2021 và tại Quyết định số 4327/2021/QĐ-CCTLCC ngày 28/4/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu bà Nguyễn Thị H (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của các ông bà Nguyễn Thị Kim D, Nguyễn Thị Ngọc Nh, Nguyễn Thanh Tr, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thị Ng) cung cấp cho Tòa án địa chỉ của ông Nguyễn Thanh S (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th) và họ tên, năm sinh, địa chỉ của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị Kh, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T (đã chết). Tuy nhiên, đến nay bà H không cung cấp được.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của bà

Nguyễn Thị H không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi nên được miễn theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 772/2021/QĐST-DS ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H được miễn.

Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành quyết định.

CÁC THẨM PHÁN

Cỡ chữ