- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Vũ Thị H và bị đơn Đặng Thị Loan"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 72/2026/QĐ-PT | Sơn La, ngày 14 tháng 8 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Tòng Thị Hiền.
Các Thẩm phán:
Bà Điêu Thị Kim Liên;
Bà Lại Thị Hiếu.
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 22/2026/QĐST – DS ngày 15 tháng 6 năm 2026.
Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La đã căn cứ vào Điều 48, Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 273 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H. Địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường MC, tỉnh Sơn La.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Thắng – Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Nguyễn Gia Sơn Thắng và cộng sự.
Bị đơn: Bà Đặng Thị L. Địa chỉ: Tổ dân phố 3. Phường MS, tỉnh Sơn La.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đặng Tiến T. Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường MS, tỉnh Sơn La.
Bà Nguyễn Thị H. Địa chỉ: Tiểu khu 5, xã Yên Châu, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại đội 31, phân trại I, trại giam Quyết Tiến, tỉnh Tuyên Quang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Đặng Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T: Ông Trần Xuân T, ông Lê Huyền A – Luật sư Văn phòng luật sư Đ. Địa chỉ: P2708, bán đảo LĐ, phường HL, thành phố Hà Nội.
Tại đơn kháng cáo ngày 22 tháng 6 năm 2026, bị đơn bà Đặng Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T kháng cáo với lý do không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn khi chưa giải quyết xong đơn khiếu nại. Cấp sơ thẩm có những vi phạm về thời hạn tống đạt văn bản, thời hạn đưa ra ý kiến của đương sự; cản trở quyền hành nghề của Luật sư và có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án; bộc lộ sự định kiến, vi phạm nguyên tắc vô tư, khách quan của Thẩm phán. Đề nghị hủy Quyết định đình chỉ; kiểm tra, xác minh đối với các đơn khiếu nại, tố cáo; xử lý các hành vi vi phạm.
* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 22/2026/QĐST – DS ngày 15 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.
XÉT THẤY:
Nguyên đơn bà Vũ Thị H khởi kiện bị đơn bà Đặng Thị L đòi lại diện tích đất đã được con gái của bà Vũ Thị H là bà Nguyễn Thị Huyền chuyển nhượng cho bà Loan vào năm 2012.
Ngày 23/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số 51/2026/TLST – DS. Ngày 15/6/2026, nguyên đơn bà Vũ Thị H có “Đơn đề nghị rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện”. Cùng ngày 15/6/2026, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 22/2026/QĐST – DS.
Xét kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T cho rằng Tòa án sơ thẩm ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết khi đang có đơn khiếu nại của đương sự trong vụ án chưa được giải quyết và các sai phạm của cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án. Xét đương sự trong vụ án có quyền khiếu nại, tố cáo về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Việc khiếu nại của đương sự trong vụ án được xem xét theo Chương XLI của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xử lý vi phạm nếu khiếu nại, tố cáo có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự (Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện) vụ án không có yêu cầu phản tố của bị đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Việc nguyên đơn bà Vũ Thị H rút đơn khởi kiện là tự nguyện, không có căn cứ việc rút đơn là do bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hộ, phù hợp với khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có căn cứ chấp nhận kháng của bị đơn bà Đặng Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T
Từ những nhận định trên, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng của bị đơn bà Đặng Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm nên được chấp nhận.
Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn bà Đặng Thị L do là người cao tuổi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 314, Điều 375 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 22/2026/QĐST – DS ngày 15 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.
3. Về án phí: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0000715 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn bà Đặng Thị L.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định (ngày 24/8/2026)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sơn La; - TAND khu vực 6 – Sơn La; - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; - Các đương sự; - Phòng GĐKT; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Tòng Thị Hiền |