vanban.org

Quyết định 72/2020/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/10/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1808/2017/QĐST-KDTM ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án. Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng M - Hồ Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 72/2020/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Văn Công

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Ý

Ông Võ Văn Khoa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên cao cấp.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 1808/2019/QĐST-KDTM ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố H đã căn cứ Điều 48, khoản 3 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 273 và điểm b khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd;

Địa chỉ: The Landmark G/F, 5B Tôn Đức Thắng, Quận 1, Thành phố H.

2. Bị đơn: Bà Hồ Ngọc T – Chủ Doanh nghiệp tư nhân Hồng L;

Địa chỉ: 139 Vĩnh Viễn, Phường 4, Quận 10, Thành phố H.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Chang Kuo M;

Địa chỉ: No 23 Alley 27 Lane 591 Chung Chen Rd, TsaoTun Nan Tou Hsien, Taiwan ROC.

3.2. Ông Tu Ching J;

Địa chỉ: 4th FL, 51 Cheng te Rd, Taipei, Taiwan, R.O.C

Tại đơn đề ngày 10/01/2020, nguyên đơn Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd kháng cáo yêu cầu hủy quyết định đình chỉ với lý do Tòa án để vụ án kéo dài 20 năm, địa chỉ đương sự ở Đài Loan nhưng Tòa án lại ủy thác tư pháp sang Hoa kỳ là sai.

XÉT THẤY:

Ngày 06/01/2020, Tòa án nhân dân thành phố H mới tống đạt Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1808/2019/QĐST-KDTM ngày 28/11/2019 cho nguyên đơn nên đơn kháng cáo ngày 10/01/2020 của nguyên đơn là còn trong thời hạn theo quy định tại Khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại Đơn khởi kiện ngày 20/9/1999 (bút lục số 217-219), nguyên đơn Ngân hàng Quốc tế Thương mại T (nay là Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd) cung cấp địa chỉ của ông Chang Kuo M và ông Tu Ching J tạm trú tại 319/A10 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, Thành phố H nhưng tại xác nhận ngày 24/11/1999 (bút lục 220) của Trưởng Công an Phường 15, Quận 11 xác định ông Chang Kuo M và ôngTu Ching J không có đăng ký tạm trú và cũng không có mặt tại địa chỉ trên.

Tại Hợp đồng bảo lãnh ngày 08/11/1996 (bút lục số 55) thể hiện ông Chang Kuo M, hộ chiếu số x xxxxxxxx, địa chỉ số 23 Alley 27 Lane 591 Chung Chen Rd, Tsao Tun Nan Tou Hsien, Taiwan R.O.C và ông Tu Ching J, hộ chiếu số x xxxxxxxx, địa chỉ số 4th Fl, 51 Chengte Rd, Sec 1, Taipei, Taiwan R.O.C.

Tại Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự số 49/UTTPDS-TA30 và số 50/UTTPDS-TA30 cùng ngày 23/01/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố H (bút lục 294, 295, 305, 306) đã ủy thác cho Cơ quan có thẩm quyền của Lãnh thổ Đài Loan và đã ghi địa chỉ của ông Chang Kuo M, ông Tu Ching J đúng theo địa chỉ ghi tại Hợp đồng bảo lãnh ngày 08/11/1996.

Tại Công văn số 2412/BTP-PLQT ngày 31/7/2019 của Bộ Tư pháp (bút lục 323) thông báo Cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan không thực hiện được ủy thác tư pháp đối với ông Chang Kuo M vì địa chỉ không chính xác.

Tại Biên bản làm việc ngày 29/10/2019 (bút lục 328), Tòa án nhân dân Thành phố H đã thông báo kết quả ủy thác và yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của ông Chang Kuo M, nhưng đại diện Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd trình bày chỉ cung cấp địa chỉ của ông Chang Kuo M theo hợp đồng, mà không cung cấp được địa chỉ mới.

Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định:“Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;”

Trong vụ án này, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của ông Chang Kuo M và ông Tu Chin J theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Ông Chang Kuo M và ông Tu Chin J thay đổi nơi cư trú, làm việc mà không thông báo cho Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd biết về nơi cư trú, làm việc mới thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd là không phù hợp.

Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd, hủy quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd không phải chịu án phí phúc thẩm và được hoàn trả lại tạm ứng án phí đã nộp.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ Luật tố tụng Dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd;

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1808/2017/QĐST-KDTM ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Ngân hàng M Internationnal Commercial Bank Co.,Ltd không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0045873 ngày 20/3/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ