vanban.org

Quyết định 72/2018/QĐ-VDS — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị L về việc yêu cầu xác định ông Lê Văn N là cha ruột của bà L.

[2] Công nhận ông Lê Văn N sinh năm 1938 là cha ruột của Lâm Thị L Bà L có quyền yêu cầu thay đổi cải chính hộ tịch theo họ của ông Lê Văn N theo quy định của pháp luật về Hộ tịch. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà L yêu cầu xác nhận ông N là cha ruột của bà L"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị L về việc yêu cầu xác định ông Lê Văn N là cha ruột của bà L.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 72/2018/QĐDS-ST
Ngày: 07-3-2018
V/v: “Yêu cầu xác định cha cho con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có :

Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị Thủy - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Lil – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 59/2017/TLST-VDS ngày 05 tháng 12 năm 2017 về yêu cầu xác định cha cho con, theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2018/QĐST-VDS ngày 26 tháng 02 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lâm Thị L; sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp LH 1, xã LP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Văn N, sinh năm: 1938 (đã chết)

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1941 (mẹ ruột bà L)

Địa chỉ: Ấp 6, xã LT A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1942 ( cậu ruột bà L)

- Địa chỉ: Ấp 6, xã LT A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Lâm Thị L yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Văn N là cha ruột của bà.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nhận định:

Về thủ tục: Theo đơn yêu cầu thì người yêu cầu bà Lâm Thị L yêu cầu tòa án xác nhận ông Lê Văn N (đã chết) là cha ruột của bà L, nên căn cứ vào khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình thì vụ việc trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Xét yêu cầu của bà Lâm Thị L cho thấy: Vào năm 1960 bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột của bà L có tổ chức lễ cưới với ông ông Lê Văn N, sinh năm 1938, nhưng không có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống ông N và bà T sinh được 01 người con chung là bà Lê Thị L (Lâm Thị L).

Đến 1964 thì ông Lê Văn N hy sinh trong 01 lần chiến đấu tại xã LT, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp 6, xã LTA thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang).

Sau khi ông N hy sinh, bà T cùng bà L sinh sống tại xã LT, huyện Long Mỹ được thời gian sau thì bà T tái giá với ông Lâm Sanh K. Bà L cùng bà T về sống chung với cha kế là ông Lâm Sanh K. Quá trình chung sống bà L được ông K nuôi dưỡng như con ruột và kê khai đăng ký lại họ tên của bà Lê Thị L thành Lâm Thị L để thuận tiện cho việc học hành, từ đó bà L mang theo họ của cha kế là họ Lâm và sử dụng tên Lâm Thị L cho đến nay.

2.1 Căn cứ hồ sơ liệt sĩ của ông Lê Văn N do Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Hậu Giang cung cấp, thể hiện: Tại Giấy chứng nhận tình hình thân nhân trong gia đình liệt sĩ ngày 16/7/1989 của Ủy ban nhân dân xã Long Tân, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và Giấy chứng nhận tình hình thân nhân trong gia đình liệt sĩ ngày 28/02/1977 của Ủy ban nhân dân xã LT, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, thể hiện ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị T có 01 người con chung là bà Lê Thị L, sinh năm 1965.

2.2 Tại biên bản xác minh của ủy ban nhân dân ấp LB 1 ngày 07/6/2016 thì những ông Huỳnh Văn Đ, Lâm Thị P và Phạm Thị H là những người lớn tuổi và có uy tín tại địa phương đã xác nhận bà Lâm Thị L là con ruột của ông Lê Văn N.

2.3 Tại biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương thì ông Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 và ông Lê Văn Ha, sinh năm: 1950 là hàng xóm của bà Lâm Thị L đề xác nhận bà L là người trực tiếp thờ cúng ông Lê Văn N hơn 30 năm nay và hàng năm bà L có tổ chức làm đám giỗ cho ông N.

2.4 Theo biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1942 (cậu ruột của bà L) và biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1941 (mẹ ruột bà L) đều xác định và thừa nhận bà Lê Thị L, sinh năm 1962 trước đây và bà Lâm Thị L, sinh năm: 1965 hiện nay là một người và cũng là con ruột của ông Lê Văn N.

Từ những chứng cứ trên xét thấy yêu cầu của bà Lâm Thị L yêu cầu Tòa án xác nhận ông Lê Văn N là cha ruột của bà L là có cơ sở nên được chấp nhận.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu: Quá trình thụ lý đến khi giải quyết vụ việc và xác định quan hệ pháp luật của Tòa án đã đảm bảo đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung kiểm sát viên đề nghị Hội đồng phiên họp áp dụng khoản 10 Điều 29, điểm h Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 39 Bộ luật dân sự, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị L về việc yêu cầu xác định ông Lê Văn N là cha bà L.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Lệ phí việc dân sự: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội người yêu cầu Lâm Thị L không phải nộp (do bà L là con của liệt sĩ Lê Văn N nên được miễn nộp tiền lệ phí việc dân sự).

Người yêu cầu Lâm Thị L được nhận lại số tiền lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0012231, phiếu lập ngày 05 tháng 12 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 362, Điều 367, điểm h Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị L về việc yêu cầu xác định ông Lê Văn N là cha ruột của bà L.

[2] Công nhận ông Lê Văn N sinh năm 1938 là cha ruột của Lâm Thị L

Bà L có quyền yêu cầu thay đổi cải chính hộ tịch theo họ của ông Lê Văn N theo quy định của pháp luật về Hộ tịch.

[3] Lệ phí việc dân sự: Người yêu cầu Lâm Thị L không phải nộp.

Người yêu cầu Lâm Thị L được nhận lại số tiền lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0012231, phiếu lập ngày 05 tháng 12 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[4] Người yêu cầu được kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn S có quyền được kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ