- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Vũ Thị H - Hồ Viết L"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 315/2018/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 713/2018/QĐ-PT |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Giang.
Các Thẩm phán:"
"1. Bà Phan Thị Liên;"
2. Ông Nguyễn Ngọc Tài.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 315/2018/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 48, Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 273 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở” giữa:
Nguyên"đơn: Bà Vũ Thị H – sinh năm 1963.
Địa chỉ: 102/45/5/11 đường P, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Bị"đơn: Ông Hồ Viết L – sinh năm 1964.
Địa chỉ: 39 đường P, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:""
1/ Ông Nguyễn Trung H – sinh năm 1964.
2/ Bà Lê Thị H – sinh năm 1964.
Cùng địa chỉ: 128/26 đường L, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí
Minh.
3/ Ông Đàm Đức H – sinh năm 1956.
4/ Ông Đàm Mạnh N – sinh năm 1985.
5/ Bà Đàm Thị Thúy V – sinh năm 1989.
6/ Ông Đàm Trí D – sinh năm 1998. 7/ Bà Tăng Thị Phượng H – sinh năm 1963. 8/ Bà Nguyễn Thị P – sinh năm 1986. 9/ Bà Trần Thị Thanh H – sinh năm 1992. 10/ Ông Lê Nhật R – sinh năm 1992. 11/ Ông Trần Thanh T – sinh năm 1986. 12/ Ông Đinh Nguyễn Hoàng N – sinh năm 1994. 13/ Ông Nguyễn Văn N – sinh năm 1990. 14/ Bà Nguyễn Giang Thanh H – sinh năm 1982. 15/ Bà Lương Thị Thu H – sinh năm 1984. 16/ Ông Lương Thanh H – sinh năm 1988. Cùng địa chỉ: 102/45/5/11 đường P, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. 17/ Ông Nguyễn Lương T – sinh năm 1952. Địa chỉ: 118 đường P, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: 96/96E (Tầng 3) đường H, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Võ Đức Duy H – sinh năm 1976. Địa chỉ: 1442/11 Đường B, Phường H, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Luật sư Nguyễn Đức L – Văn phòng Luật sư Nguyễn Đức L AHCM thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. 18/ Bà Nguyễn Thị C – sinh năm 1965. Địa chỉ: 39 đường P, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. 19/ Ngân hàng Thương mại Cổ phần P. Địa chỉ: 41 đường L, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. 20/ Phòng công chứng B, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: 25/5 đường H, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. 21/ Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: 387A đường T, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi có quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, ngày 25/5/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Nguyễn Lương T có đơn kháng cáo đề ngày 22/5/2018 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết tuyên hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 315/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân quận T; đồng thời tuyên bố hợp đồng tặng cho căn nhà số 102/45/5/11 đường P, Phường M, quận T giữa ông Nguyễn Trung H, bà Lê Thị H với ông Hồ Viết L ngày 30/11/2006 đã được Phòng công chứng NN B chứng thực bị vô hiệu; xóa đăng ký cập nhật biến động từ ông H – bà H sang ông L với lý do: hợp đồng tặng cho tài sản trên là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu giao dịch thật sự là vay mượn tiền giữa ông L với ông T.
XÉT THẤY:
Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án, vào ngày 23/02/2018, nguyên đơn bà Vũ Thị Hoa có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở” đối với bị đơn là ông H. Đồng thời, trong ngày 23/4/2018 ông H cũng nộp đơn xin rút lại yêu cầu phản tố đối với bà Vũ Thị H; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác trong cùng vụ án đều không có yêu cầu độc lập nên Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 315/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 theo quy định của pháp luật về dân sự.
Xét thấy, nguyên đơn bà Vũ Thị H xin rút đơn khởi kiện, bị đơn ông Hồ Viết L xin rút đơn phản tố tại Tòa án cấp sơ thẩm là tự nguyện, được lập thành văn bản thể hiện đúng ý chí mỗi bên, không trái đạo đức xã hội và quy định của pháp luật. Do vụ việc tranh chấp không còn phát sinh nên Tòa án nhân dân quận T ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm nộp của mỗi bên là có căn cứ pháp luật.
Ngày 25/5/218, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Nguyễn Lương T có đơn kháng cáo đề ngày 22/5/2018 với nội dung như đã được tóm tắt phần trên. Thấy rằng, ở giai đoạn giải quyết sơ thẩm, ông Nguyễn Lương T không có yêu cầu độc lập, việc tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở đã chấm dứt sau khi các bên đã rút đơn khởi kiện nên yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Lương T không có cơ sở để xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo như sau: Nguyên đơn bà Vũ Thị H có đơn xin rút đơn kiện, bị đơn ông Hồ Viết L có đơn xin rút yêu cầu phản tố, việc rút đơn của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không trái với quy định của pháp luật, vì vậy Tòa án nhân dân quận T ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là đúng; kháng cáo của ông Nguyễn Lương T - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án theo hướng không công nhận hợp đồng tặng cho tài sản giữa các bên đương sự là không có căn cứ để chấp nhận; đề nghị giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Với phân tích và đề nghị trên, Hội đồng phúc thẩm phiên họp xét thấy cần giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp. Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định. Bởi các lẽ trên, Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 315/2018/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Lương T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba"trăm"nghìn"đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0008382 ngày 25/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Lương T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TANDTC (1) - TAND cấp cao (tại Tp.HCM) (1) - TAND quận T (1) - VKSND cấp cao (tại Tp.HCM) (1) - VKSND Tp.HCM (1) - Chi cục THADS quận T (1) - Các đương sự (23) - Lưu hồ sơ vụ án (4) | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Giang |