vanban.org

Quyết định 71/2022/QĐHNGĐ-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T:

Xác định ông Võ Văn T (sinh năm 1971, nơi cư trú: ấp 1, xã Lương Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) là cha đẻ của cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019. Tuyên bố ông Lê Phú H (sinh năm 1986, nơi cư trú: ấp 6, xã Thới H, huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ) không phải là cha đẻ của cháu Lê Thị Q, sinh ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị C"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T:
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Dân sự
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 71/2022/QĐHNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc xác định cha cho con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngoan.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai việc dân sự thụ lý số: 86/2022/TLST-VDS ngày 04 tháng 8 năm 2022 về yêu cầu “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 10/2022/QĐPH-ST ngày 17 tháng 8 năm 2022:

Người yêu cầu: 1/Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1985; (có mặt)

2/ Ông Võ Văn T, sinh năm 1971; (có mặt)

Cùng nơi cư trú: ấp 1, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Phú H, sinh năm 1986. (vắng mặt, ông H có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 6, xã Thới H, huyện C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

[1] Theo đơn yêu cầu ngày 27 tháng 6 năm 2022, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu bà Đỗ Thị C trình bày: Vào năm 2010, bà C và ông Lê Phú H tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thới An, huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ. Trong quá trình chung sống với ông H, bà C sinh cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/20219 và đăng ký khai sinh cho cháu Q tại Uỷ ban nhân dân xã Lương Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/6/2020 có tên mẹ là Đỗ Thị C, sinh năm 1985 và cha là Lê Phú H, sinh năm 1986. Đến tháng 02/2020, bà C và ông H ly hôn theo bản án số 31/2020/HNGĐ-ST ngày 28/02/2020 của Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Khi ly hôn, bà C và ông H khai có 01 con chung là Lê Vĩnh P, sinh ngày 23/10/2004, còn cháu Q tuy có khai sinh nH bà C và ông H đều thống nhất không phải con chung của ông bà, lý do là trong thời gian hôn nhân với ông H, bà C có quan hệ với ông Võ Văn T và cháu Q là con của bà và ông T. Đến tháng 3/2020 bà và ông T đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lương Hoà, hiện cháu Q do bà và ông T đang nuôi dưỡng. Ông bà đã đưa cháu Q đi xét nghiệm ADN, kết quả xác định ông T với cháu Q là cha con. Do đó, bà và ông T yêu cầu Toà án xác định ông Võ Văn T là cha của cháu Q và ông Lê Phú H không phải là cha của cháu Q.

Theo đơn yêu cầu ngày 27 tháng 6 năm 2022, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu ông Võ Văn T trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà C, ông yêu cầu Toà án xác định ông là cha của cháu Q và ông Lê Phú H không phải là cha của cháu Q.

Theo đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 22 tháng 6 năm 2022 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Phú H cũng xác định cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019 không phải là con của ông, ông thống nhất với nội dung yêu cầu của bà C và ông T. Ông yêu cầu toà giải quyết vắng mặt ông.

[2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu quan điểm tại phiên họp:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: đúng quy định.

-Về nội dung giải quyết vụ án: Theo kết quả giám định ADN thể hiện cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019 và ông Võ Văn T có quan hệ huyết thống cha – con với xác xuất quan hệ là 99,9999%. Như vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà C và ông T. Đề nghị Toà án xác định ông Võ Văn T là cha của cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019, ông Lê Phú H không phải là cha của cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019. Bà C và ông T có quyền liên hệ cơ quan chức năng để cải chính lại hộ tịch cho cháu Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm nhận định:

Về tố tụng: Xét yêu cầu của bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T yêu cầu xác định ông Võ Văn T là cha của cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019; ông Lê Phú H không phải là cha của cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019, đây là yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Phú H vắng mặt nH có đơn xin giải quyết vắng mặt, trong nội dung đơn đã trình bày rõ ý kiến đối với yêu cầu của bà C và ông T. Do đó, căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt ông H.

Về nội dung: Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Trong thời gian hôn nhân với ông H, bà C có quan hệ như vợ chồng với ông T và sinh cháu Lê Thị Q.

Tại Phiếu kết quả phân tích ADN số : FU386_22.M1.B ngày 24 tháng 6 năm 2022 của công ty TNHH Một thành viên thương mại và dịch vụ DNA TESTINGS xét nghiệm ký hiệu mẫu B2318PA 22.M (cha giả định) ông Võ Văn T với ký hiệu mẫu C2318PA 22.M (con giả định) cháu Lê Thị Q có quan hệ huyết thống cha - con với xác xuất quan hệ là 99,9999%.

Như vậy, bà C và ông T yêu cầu xác định ông T là cha đẻ của cháu Q do bà C sinh ra là có cơ sở và chính đáng nên được chấp nhận. Do đó, cần tuyên bố ông H không phải là cha đẻ của cháu Q.

Bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T được miễn nộp lệ phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Giồng Trôm tại phiên họp là có cơ sở chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 89, 90, 91, 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 10 Điều 29 Bộ luật Dân sự; các Điều 367, 368, 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T:

Xác định ông Võ Văn T (sinh năm 1971, nơi cư trú: ấp 1, xã Lương Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) là cha đẻ của cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019.

Tuyên bố ông Lê Phú H (sinh năm 1986, nơi cư trú: ấp 6, xã Thới H, huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ) không phải là cha đẻ của cháu Lê Thị Q, sinh ngày 22/9/2019 (Đăng ký khai sinh số 119 ngày 10/6/2020 do Uỷ ban nhân dân xã Lương Hoà cấp).

Bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật.

[2] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T được miễn nộp lệ phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[3] Về quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị C và ông Võ Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Ông Lê Phú H có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ