- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 695/2019/QĐST-VDS | Quận 6, ngày 23 tháng 9 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Bé Bảy
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 587/2019/TLST-HNGĐ ngày 16/8/2019, về việc: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 370/2019/QĐ-MPH ngày 09/9/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1/Ông Tăng Vi Đ, sinh năm: 1972
2/Bà Phạm Thị T, sinh năm 1970
Địa chỉ: Số A đường V, Phường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện ủy quyền của người yêu cầu: Ông Nguyễn Thành Th, sinh năm 1987, theo văn bản ủy quyền ngày 27/8/2019. (Đương sự vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường L, Phường T, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị H, sinh năm 1967 (Đương sự vắng mặt)
Địa chỉ: Số C đường P, Phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại Đơn yêu cầu ngày 16/7/2019 và Bản tự khai ngày 23/8/2019, người yêu cầu bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ trình bày: Ông Đ và bà T do không có con nên nhận nuôi con nuôi là Trần Thị Thủy T là con đẻ của ông Trần Văn T và bà Phạm Thị H để làm con đỡ đầu để hi vọng sinh được con.
Việc nuôi con đã được làm thủ tục hợp pháp tại Ủy ban nhân dân Phường T, Quận S theo Quyết định nhận nuôi con nuôi số 121/QĐ-UBND ngày 28/10/2009. Ngày 17/11/2009, bà T và ông Đ có làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch đổi họ tên Trần Thị Thủy T quê quán Thành phố Hồ Chí Minh thành Tăng Thị Thủy L quê quán Trung Quốc theo Quyết định số 15/QĐ-UBND.
Trong thời gian từ ngày làm thủ tục nhận nuôi theo quy định pháp luật, con nuôi Tăng Thị Thủy L vẫn ở nhà cha mẹ ruột, không thực tế sinh sống cùng cha mẹ nuôi, hai bên không có mâu thuẫn gì. Trong quá trình làm con nuôi Tăng Thị Thủy L không có tài sản riêng, không có đóng góp gì vào tài sản chung của cha mẹ nuôi.
Từ ngày cha ruột là ông Trần Văn T chết (năm 2016) con nuôi Tăng Thị Thủy L và mẹ ruột là bà Phạm Thị H đề nghị cha mẹ nuôi bà T, ông Đ chấm dứt việc nuôi con nuôi. Nay bà T và ông Đ cùng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi vì nhận thấy việc nhận cháu Thủy L làm con nuôi để đỡ đầu mong sinh được con là không phù hợp với thực tế. Nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu Thủy L.
Tại bản tự khai ngày 19/8/2019, ông Nguyễn Thành Th là người đại diện ủy quyền của ông Đ và bà T cùng thống nhất với ý kiến như trong đơn yêu cầu của ông Đ và bà T, đề nghị Tòa án giải quyết việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng ông Đ, bà T đối với con nuôi Tăng Thị Thủy L, giao con nuôi Tăng Thị Thủy L cho mẹ ruột là bà Phạm Thị H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H trình bày: Bà H đồng ý việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng ông Đ, bà T đối với con nuôi Tăng Thị Thủy L, bà H đồng ý nhận lại con ruột là Tăng Thị Thủy L (Trần Thị Thủy T)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
1. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Yêu cầu của bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ về việc: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu, bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ đang cư trú tại Quận 6, nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 35 và điểm t, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về yêu cầu của đương sự: Theo Quyết định nhận nuôi con nuôi số 121/QĐ-UBND ngày 28/10/2009 của Ủy ban nhân dân Phường 8, Quận 6; ngày 17/11/2009, bà T và ông Đ có làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch đổi họ tên Trần Thị Thủy T quê quán Thành phố Hồ Chí Minh thành Tăng Thị Thủy L quê quán Trung Quốc theo Quyết định số 15/QĐ-UBND; Giấy khai sinh số 175 ngày 28/4/2004 của Ủy ban nhân dân Phường L, Quận T công nhận việc bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ nhận trẻ Trần Thị Thủy T làm con nuôi hợp pháp.
Các bên đương sự đều xác định việc nhận nuôi trẻ Tăng Thị Thủy L của bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ nhằm mục đích làm con đỡ đầu để mong sinh được con. Căn cứ khoản 7 Điều 13 và khoản 4 Điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là có cơ sở chấp nhận.
Con nuôi Tăng Thị Thủy L (tên cũ Trần Thị Thủy T), sinh ngày 29/3/2004 là chưa thành niên. Căn cứ khoản 2 Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010, cần giao lại trẻ L cho mẹ ruột là bà Phạm Thị H chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng vì lợi ích tốt nhất của trẻ.
Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi và nhận lại con ruột của các đương sự hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Tăng Thị Thủy L.
Bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ, ông Nguyễn Thành Th, bà Phạm Thị H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp vì lý do bận việc gia đình. Xét đây là sự nguyện, không trái pháp luật. Căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ, ông Nguyễn Thành Th, bà Phạm Thị H.
3. Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6 đề nghị Tòa án căn cứ Điều 13, Điều 25, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010, xem xét chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các điều 149, 361 , 367, 370, 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 13, Điều 25 và Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010;
Căn cứ vào Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ.
Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ và trẻ Tăng Thị Thủy L, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/3/2004 theo Quyết định nuôi con nuôi số 121/QĐ-UNBD ngày 28/10/2009 của Ủy ban nhân dân Phường t, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật
Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi
2. Giao trẻ Tăng Thị Thủy L cho cha mẹ ruột là bà Phạm Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Phạm Thị T, ông Tăng Vi Đ mỗi người phải nộp 150.000 (một trăm năm mươi ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí ông Đ và bà T đã nộp theo biên lai thu số 00011502 ngày 16/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 6. Các đương sự đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định, đối với đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 6; - Chi cục THADS Q.6; - UBND Q.S; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Bé Bảy |