- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố bà Phạm Thị Mai X mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Chử Đức T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 69/2022/QĐST - VDS | T, ngày 27 tháng 07 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Văn Chương
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T - thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 09/2022/TLST - VDS ngày 26/01/2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2022/QĐST - VDS ngày 15/07/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Chử Đức T, sinh năm 1964 HKTT và chỗ ở: Thôn 4, xã V, huyện T, Hà Nội (Có mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị Mai X, sinh năm 1976 HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã V, huyện T, Hà Nội (Vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Chử Đức T và bà Phạm Thị Mai X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16/11/2001 tại Ủy ban nhân dân xã V, T, Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng ông T, bà X sống tại nhà ông T ở Thôn 4, xã V, T, Hà Nội. Năm 2006, bà X đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan đến tháng 6/2012 thì về nước nhưng đến tháng 12/2012 đã bỏ nhà đi từ đó đến nay chưa về, ông T không biết nguyên nhân vì sao bà X bỏ nhà đi. Ông T và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm thông tin về bà X nhưng không có tin tức gì. Hiện nay bà X đang ở đâu ông T và gia đình không biết.
Tại đơn đề nghị ngày 18/01/2022 của ông Chử Đức T gửi Công an xã V, huyện T, Hà Nội trình bày về việc bà X đi biệt tích từ tháng 6/2012 đến nay chưa về đã được Công an xã V xác nhận: Bà Phạm Thị Mai X, sinh năm 1976; HKTT: Thôn 4, xã V, huyện T, Hà Nội đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2012 đến nay chưa quay trở lại địa phương.
Ngày 01/03/2022, Tòa án nhân dân huyện T đã ra quyết định số 01/2022/QĐ - TA về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Phạm Thị Mai X, việc thông báo tìm kiếm bà X được đăng trên báo Nhân Dân 03 số liên tiếp (các ngày 09,10,11/03/2022) và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp (vào hồi 17h30 các ngày 15,16,17/03/2022), đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội từ ngày 01/03/2022 nhưng Tòa án nhân dân huyện T không nhận được tin tức gì về bà X.
Tại phiên họp:
- Ông Chử Đức T giữ yêu cầu đã trình bày trong quá trình giải quyết việc dân sự. Đề nghị Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị Mai X mất tích.
- Bà Phạm Thị Mai X vắng mặt tại phiên họp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:
+ Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết việc dân sự đúng thẩm quyền. Quá trình tiến hành tố tụng thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Chử Đức T, tuyên bố bà Phạm Thị Mai X mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố người mất tích quy định khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Phạm Thị Mai X trước khi biệt tích có Hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn 4, xã V, T, Hà Nội nên theo quy định tại khoản 2 Điều 35, Điều 39 BLTTDS việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T.
Về nội dung vụ việc:
Bà Phạm Thị Mai X bỏ đi biệt tích từ ngày 01/12/2012, gia đình và chồng bà X là ông Chử Đức T đã tìm kiếm bà X nhưng không có tin tức gì. Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội đã thông báo tìm kiếm bà X trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng cũng không có tin tức xác thực về việc bà X còn sống hay đã chết.
Tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tuyên bố mất tích như sau:
“Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có thông tin xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.
Xét thấy theo quy định của pháp luật đã trích dẫn Tòa án có căn cứ tuyên bố bà X mất tích.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên họp phù hợp với quan điểm của chủ tọa phiên họp nên chấp nhận.
Bởi những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 39 và các điều 361, 371, 372, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Chử Đức T.
Tuyên bố bà Phạm Thị Mai X, sinh năm 1976; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội mất tích.
2. Về lệ phí: Ông Chử Đức T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết yêu cầu về dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0063176 ngày 24/01/2022.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt quyết định hoặc ngày niêm yết quyết định.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - VKSND huyện T, TP Hà Nội. - Chi cục thi hành án dân sự huyện T, TP Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | NGUYỄN VĂN CHƯƠNG |