vanban.org

Quyết định 68/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thành L. Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Nai. Tên gọi khác: Cà Lâm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thành L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 68/QĐ-TATrảng Bom, ngày 27 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Bùi Thị Liên

2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Thu Huyền.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 69/QĐ-TA, ngày 23 tháng 6 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thành L, sinh năm 1990. Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Nai.

Tên gọi khác: Cà Lâm

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ đào tạo: 0/12

Nơi đăng ký thường trú: Ấp TB, xã M, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: ấp TB, xã M, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Công an xã M: Ông Nguyễn Thiện Đại – Cán bộ công an.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Sau khi nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ thể hiện: Nguyễn Thành L là người nghiện ma túy. Vào năm 2023, Nguyễn Thành L có đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai. Sau khi cai nghiện xong thì Nguyễn Thành L trở về địa phương sinh sống nhưng không từ bỏ được việc sử dụng trái phép chất ma túy nên đã đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình. Đến ngày 14/5/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định số 107/QĐ - UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Nguyễn Thành L, thời gian từ ngày 14/5/2025 đến ngày 13/5/2026. Tuy nhiên, ngày 06/6/2025, Nguyễn Thành L lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M ban hành Quyết định số 117/QĐ-UBND chấm dứt cai nghiện tại gia đình, cộng đồng đối với Nguyễn Thành L kể từ ngày 06/6/2025.

Ngày 16/6/2025, Trưởng Công an xã M ra Quyết định số 59C/QĐ-CAX về việc quản lý người cai nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Nguyễn Thành L. Thời gian từ ngày 07/6/2025 đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án.

Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 06/6/2025 của Trạm y tế xã M đã xác định Nguyễn Thành L dương tính với chất ma túy.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị Công an xã M: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom tiếp nhận hồ sơ và xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L. Nơi chấp hành là Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Ấp Chà Rang, xã Suối Cao, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Việc thụ lý giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền, hồ sơ đầy đủ tài liệu theo quy định, đảm bảo cho việc xem xét, phán quyết của Tòa án. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom giải quyết theo hướng đồng ý theo đề nghị của Công an xã M. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành L thời gian từ 18 tháng đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghe ý kiến trình bày, tranh luận của cơ quan đề nghị và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đã đủ cơ sở để xác định:

Nguyễn Thành L là người nghiện ma túy từ năm 2009. Vào năm 2023, Nguyễn Thành L có đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai. Sau khi cai nghiện xong thì Nguyễn Thành L trở về địa phương sinh sống nhưng không từ bỏ được việc sử dụng trái phép chất ma túy nên đã đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Đến ngày 14/5/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định số 107/QĐ - UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Nguyễn Thành L, thời gian từ ngày 14/5/2025 đến ngày 13/5/2026. Tuy nhiên, ngày 06/6/2025, Nguyễn Thành L lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M ban hành Quyết định số 117/QĐ-UBND chấm dứt cai nghiện tại gia đình, cộng đồng đối với Nguyễn Thành L kể từ ngày 06/6/2025.

Do đó, Nguyễn Thành L thuộc đối tượng áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 29/12/2022; khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Hồ sơ đề nghị được cơ quan đề nghị lập đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 41, 42 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và Điều 7 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Hành vi của Nguyễn Thành L cần phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đối tượng nhận thức được hành vi sai phạm của mình, có hướng cải tạo, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét thấy, Công an xã M đã lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Thành L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ vào hồ sơ đã được xác minh làm rõ, việc Công an xã M đề nghị đưa Nguyễn Thành L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, đúng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2022; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Điều 7 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thành L. Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Nai.

Tên gọi khác: Cà Lâm

Sinh ngày: 10/7/1990

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ đào tạo: 0/12

Nơi đăng ký thường trú: Ấp TB, xã M, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: ấp TB, xã M, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961.

Vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ: Ấp CH, xã C, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng có quyền làm đơn khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị bằng văn bản đối với quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ