- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 68/2021/QĐST-HNGĐ | Quảng Xương, ngày 16 tháng 11 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
Sau khi nghiên cứu hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số 68 ngày 01/11/2021 về việc “Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án” của những người yêu cầu:
1. Chị Chị Nguyễn Thị Ng Sinh năm 1992
2. Anh Võ Văn T Sinh năm 1984
Cùng nơi ĐKHKTT: Thôn 2, xã T, huyện X, tỉnh H.
NỘI DUNG HÒA GIẢI THÀNH
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
[2] Nội dung yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án:
- Về hôn nhân và con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Võ Văn T đã ly hôn theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 33/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương. Trong Quyết định công nhận chị Ng và anh T không yêu cầu Tòa giải quyết về chia tài sản chung.
Nay chị Nguyễn Thị Ng có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn, Chị Ng trình bày:
Trong thời kỳ hôn nhân, chị Ng và anh T có một ngôi nhà chung xây dựng trên mảnh đất mà bố mẹ anh T cho với tổng giá trị xây dựng là hơn 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) và một số đồ dùng có giá trị khác trong nhà, bao gồm: 01 TV sony 42inch; 01 điều hòa; 01 tủ lạnh; 01 máy giặt trị giá; 01 bộ bàn ghế; 01 máy lọc nước chị Nga đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương giải quyết chia tài sản cho chị Nga được hưởng ½ giá trị phần tài sản trên.
Anh Võ Văn T trình bày: Anh T và chị Ng đã ly hôn theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 33/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương và anh T thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con chung tên Võ An H, sinh ngày 12/9/2018 cho chị Ng là 1.500.000 đ (môt triệu năm trăm ngàn đồng) từ tháng 8/2021 nhưng do dịch bệnh nên anh T chưa cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ng được. Nay anh T sẽ thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung Võ An H, sinh ngày 12/9/2018 cùng chị Ng mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
Trong thời kỳ hôn nhân anh T và chị Ng có xây một ngôi nhà trên mảnh đất của bố mẹ anh T (Giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên bố mẹ anh T) và mua sắm một số đồ dùng và trang thiết bị trong nhà gồm: 01 Ti vi sony 42inch; 01 điều hòa; 01 tủ lạnh; 01 máy giặt; 01 bộ bàn ghế; 01 máy lọc nước đến thời điểm ly hôn anh T và chị Ng không đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản.
Nay chị Ng yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì anh T không đồng ý chia tài sản, anh T muốn để lại khối tài sản cho các con và anh T sẽ thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung Võ An H, sinh ngày 12/9/2018 cùng chị Ng mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, kể từ tháng 8/2021 theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 33/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.
Trường hợp anh Võ Văn T không thực hiện đúng theo cam kết trên thì chị Nguyễn Thị Ng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia khối tài sản chung trên theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của chị Ng: Nếu anh T thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung Võ An H, sinh ngày 12/9/2018 cùng chị Ng mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, kể từ tháng 8/2021 thì chị Ng đồng ý để lại tài sản chung cho các con. Nếu anh T không thực hiện đúng việc cấp dưỡng cho con chung thì chị Ng có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 01/11/2021;
Căn cứ Điều 33; Điều 34; Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình;
QUYẾT ĐỊNH
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Anh Võ Văn T và chị Nguyễn Thị Ng thống nhất anh chị có khối tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà; 01 Ti vi sony 42inch; 01 điều hòa; 01 tủ lạnh; 01 máy giặt; 01 bộ bàn ghế; 01 máy lọc nước.
Chị Nguyễn Thị Ng và anh Võ Văn T thống nhất để lại toàn bộ khối tài sản chung trên cho con chung là Võ Như Q, sinh ngày 29/9/2014 và Võ An H, sinh ngày 12/9/2018. Anh Võ Văn T phải thực hiện việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung tên Võ An H, sinh ngày 12/9/2018, mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu H (đủ 18 tuổi), kể từ tháng 8/2021 theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 33/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.
Trường hợp anh Võ Văn T không thực hiện đúng theo cam kết trên thì chị Nguyễn Thị Ng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia khối tài sản chung trên theo quy định của pháp luật
2. Về chi phí hòa giải tại Tòa án: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Võ Văn T không phải chịu.
3. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự.
4. Những người yêu cầu có quyền đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà không thực hiện được quyền đề nghị theo đúng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề nghị. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quảng Xương; - Chi cục THADS huyện Quảng Xương; - Những người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Vũ Đại Long |