- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Võ Hồng N phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Võ Hồng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG–THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/HS-ST Ngày: 04/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bình
Ông Trần Thanh Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2019/QĐXXST-HS ngày 21/8/2019 đối với bị cáo:
Trần Võ Hồng N, tên gọi khác: không; sinh ngày 03/9/1997; Nơi cư trú: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: sửa xe; Trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hồng Q, sinh năm 1971 và bà Võ Thị Bô, sinh năm 1978; Anh chị em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người bị hại: Bà Trần Thị Q, sinh năm 1937 (chết).
Đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Phan L, sinh năm 1963 (con rể của người bị hại) (Theo giấy ủy quyền ngày 04/4/2019 và giấy ủy quyền ngày 10/6/2019).
Địa chỉ: Khu phố 5, phường V, TP. P, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Người làm chứng: Bà Lê Thị Thanh Th, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Khu phố 5, phường V, TP. P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 28/3/2019, Trần Võ Hồng N điều khiển xe mô tô Winner, màu trắng đen, biển số 85C1-312.xx chạy hướng từ Ninh Hải đi TP. Phan Rang – Tháp Chàm, khi đến đường Trường Chinh thuộc Khu phố 5, phường Văn Hải, TP. Phan Rang – Tháp Chàm lúc này có chị Lê Thị Thanh T và bà Trần Thị Q ở phía trước đang đi bộ băng qua đường, theo hướng từ lề đường trái, sang hướng lề đường bên phải (theo hướng Ninh Hải đi Phan Rang), do thiếu quan sát nên khi xe mô tô của Nh chạy đến gần chỗ chị T và bà Q, N điều khiển xe lách sang trái tránh chị T thì xe mô tô của N tông vào bà Q, làm bà Q, N và xe mô tô ngã xuống đường, bà Q được đưa vào bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận cấp cứu và chết vào đêm 28/3/2019 được gia đình đưa về xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận an táng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 47/GĐHS ngày 18/4/2019 của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận nguyên nhân chết của bà Trần Thị Q: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não nặng, nứt sọ chẩm, tụ máu dưới màng cứng, bán cầu hai bên, tụ máu xoang bướm + sàng hai bên, gãy xương sườn VI, VII bên phải do tai nạn giao thông, điều trị không hồi phục.
Tại các biên bản đo nồng độ cồn ngày 28/3/2019, xác định nồng độ cồn của Trần Võ Hồng Nhân là 0,000mg/l.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến, hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Bản cáo trạng số 63/CT-VKSPRTC ngày 02/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, truy tố bị cáo Trần Võ Hồng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Võ Hồng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Võ Hồng N từ 12 đến 15 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên, nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với: Biên bản sơ đồ hiện trường vụ tai nạn, lời khai của người làm chứng và các tài, liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ, ngày 28/3/2019, Trần Võ Hồng N có giấy phép lái xe A1, điều khiển xe mô tô 85C1-312.xx chạy hướng từ Ninh Hải đi TP. Phan Rang – Tháp Chàm, khi đến đường Trường Chinh thuộc Khu phố 5, phường Văn Hải, TP. Phan Rang – Tháp Chàm do thiếu quan sát nên đã tông vào bà Trần Thị Q đang qua đường, hậu quả bà Q chết. Hành vi của bị cáo Trần Võ Hồng N đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm truy tố bị cáo Trần Võ Hồng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung làm chết người theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[3] Trong vụ án này, người bị hại là bà Trần Thị Q cũng có một phần lỗi, vì theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ quy định người đi bộ “Trường hợp không có đèn tính hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi đảm bảo an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường”. Theo biên bản hiện trường của vụ tai nạn thì đoạn đường nơi xảy ra tai nạn không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và người bị hại không quan sát kỷ, qua đường khi chưa đảm bảo an toàn dẫn đến tai nạn xảy ra. Ngày 24/4/2019 đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin bãi nại miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo (bút lục 75).
Tại phiên tòa, ông Phan L đại diện hợp pháp của người bị hại cung cấp cho Tòa án giấy biên nhận, xác nhận nội dung “có nhận số tiền 5.000.000đ của gia đình Trần Võ Hồng Nh là người gây ra tai nạn, đây là số tiền bồi thường để gia đình ông lo mai táng cho bà Trần Thị Q”, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người bị hại tha thiết xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của bà Qu, gây tổn thất về tinh thần cho gia đình người bị hại.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, người bị hại có một phần lỗi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Trần Võ Hồng N xe mô tô xe Winner, màu trắng đen, biển số 85C1-312.87 do bị cáo là chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Võ Hồng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Xử phạt: Bị cáo Trần Võ Hồng N 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/9/2019).
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Trần Võ Hồng N cho Ủy ban nhân dân thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Võ Hồng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/9/2019.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Bị cáo; đại diện người bị hại; - Lưu án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |