- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trần Văn L- Nguyễn Thị X"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Trần Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 68/2018/QĐST-VDS | Hải Hậu, ngày 30 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Văn Thung
- Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Hoè - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên họp:
Ông Trần Văn Côn – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 19/2018/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2018/QĐST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Trần Văn L, sinh năm 1978; địa chỉ: Xóm A, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm A, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Anh L có đơn xin vắng mặt; chị X vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu của anh Trần Văn L và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:
Anh Trần Văn L kết hôn với chị Nguyễn Thị X vào ngày 20/12/1999 tại UBND xã Hải Lý trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với bố mẹ đẻ anh L tại xóm A xã Hải Lý. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2010 thì chị X tự ý bỏ nhà đi không thông báo gì cho anh L và gia đình. Anh L đã nhờ anh em, bạn bè tìm chị X ở nhiều nơi trong suốt thời gian qua nhưng không có kết quả. Từ năm 2010 đến nay, chị X không liên lạc gì với anh L và gia đình nên đến nay không ai biết chị X đang ở đâu, làm gì. Sau khi anh L có đơn yêu cầu, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã thông báo tìm kiếm chị X trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay không có tin tức gì. Vì vậy, tại phiên họp anh L vẫn giữ yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị X mất tích.
Quá trình chung sống, vợ chồng anh L, chị X không có tài sản chung, không vay nợ chung. Về con chung, vợ chồng có 1 con chung là Trần Văn Tuấn, sinh ngày 30/10/2000, hiện đã đủ tuổi trưởng thành, lao động tự lập được. Vì vậy, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và con chung.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký phiên họp cũng như việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu.
Về việc giải quyết việc dân sự: Anh L có đơn yêu cầu và Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu thụ lý việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất tích” là có căn cứ và đúng với quy định tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị X bỏ đi từ năm 2010 đến nay không có tin tức, địa chỉ. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu của anh L, tuyên bố chị X mất tích theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu nhận định:
Anh Trần Văn L kết hôn với chị Nguyễn Thị X vào năm 1999, đã được UBND xã Hải Lý đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2010 thì chị X bỏ đi, đến nay không ai biết chị X đang làm gì, ở đâu. Theo đơn yêu cầu của anh L, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã thực hiện các biện pháp tìm kiếm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không có kết quả. Kết quả xác minh tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của chị X thể hiện: Trong suốt thời gian từ năm 2010 đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm, chị X không về địa phương và không có tin tức gì cho gia đình, người thân. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh L và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu về việc tuyên bố mất tích đối với chị X.
Quá trình chung sống, vợ chồng anh L, chị X không có tài sản chung, không vay nợ chung. Về con chung, vợ chồng có 1 con chung là Trần Văn Tuấn, sinh ngày 30/10/2000 hiện đã đủ tuổi trưởng thành, lao động tự lập được. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, anh L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Anh L phải nộp lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 370, 371, 372, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Trần Văn L.
2. Tuyên bố chị Nguyễn Thị X mất tích.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Trần Văn L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000026 ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Anh Trần Văn L đã nộp đủ tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
| Nơi gửi: - Cấp cho đương sự: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Cơ quan THADS huyện; - UBND xã Hải Lý; - L văn phòng; - L hồ sơ. | THẨM PHÁN |