- Tranh chấp gì? "Phạm Thị Ngọc G"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 67/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Tâm.
2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Minh Tấn .
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An
Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 73/QĐ-
TA ngày 22 tháng 9 năm 2020 đối với:
Phạm Thị Ngọc G, sinh năm 1989; Giới tính: Nữ;
Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã C, thị xã U, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện
nay: không có nơi cư trú ổn định;
Nghề nghiệp: Không;
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Phật
Trình độ văn hóa: 7/12;
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Phạm Văn N (chết) và bà Trương Thị Ngọc T.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố K; là đại diện theo ủy quyền.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên họp: Ông
Nguyễn Thành Thái – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 07/8/2020, Phạm Thị Ngọc G bị công an phường S, thành phố K
nghi vấn có sử dụng ma túy, nên mời về trụ sở công an phường S, thành phố K
tổ chức lấy mẫu nước tiểu của Sang đưa đến Trung tâm y tế thành phố K để kiểm
tra và kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamin và Morphin, G cũng thừa nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Công an phường S, thành phố K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với G.
Ngày 07/8/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, thành phố K ban hành
Quyết định 286/QĐ-UBND về việc giao cho cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với G.
Ngày 17/8/2020, Công an phường S, thành phố K ban hành Đề nghị số
271c/ĐN-CAP đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Ngọc G, nhằm giúp đỡ G có cơ hội cai nghiện, học nghề.
Theo Thông báo số 77/TB-PTP ngày 14/9/2020, Phòng Tư pháp thành
phố K đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với G bảo đảm về tính pháp lý.
Ngày 16/9/2020, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành văn
bản số 68/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Ngọc G với thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố K giữ
nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Ngọc G với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.
- Phạm Thị Ngọc G thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy như hồ sơ
thể hiện và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.
- Đại diện Viện Kiểm sát thành phố K tham gia phiên họp phát biểu quan
điểm: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.
Căn cứ công văn đề nghị số 68 ngày 16/9/2020 của Phòng Lao động -
Thương binh và Xã hội thành phố K thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09 ngày 20/01/2014. G có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối ngày 07/8/2020, Tòa án nhân dân thành phố K thụ lý là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Phạm Thị Ngọc G, sinh năm 1989 là người nghiện ma túy trên 18 tuổi,
không có nơi cư trú ổn định, nên đề nghị đưa G vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Đề nghị Toà án nhân dân thành phố K chấp nhận đề nghị của Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Ngọc G.
XÉT THẤY:
* Về tố tụng:
Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K
đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
* Về nội dung:
Lời khai nhận của Phạm Thị Ngọc G về hành vi sử dụng trái phép chất ma
túy là phù hợp với kết quả xét nghiệm và biên bản vi phạm hành chính do Công
an phường S, thành phố K lập ngày 07/8/2020.
Kết quả xác minh tình trạng cư trú của Phạm Thị Ngọc G tại Tổ 03, Ấp
H, xã C, thị xã U, tỉnh An Giang được biết: Phạm Thị Ngọc G, sinh năm 1989
có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ 3, Ấp H, xã C, thị xã U, tỉnh An Giang,
Đầu năm 2019 cho đến nay G không thường xuyên sinh sống tại địa phương mà
bỏ địa phương đi đâu không rõ, làm gì ở đâu. Đồng thời, Sang không sinh sống,
không đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú tại khu vực phường S, thành phố
K.
Việc G sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường S phát hiện và
G cũng không chứng minh được việc thường xuyên sinh sống tại Ấp H, xã C, thị
xã U, tỉnh An Giang.Từ đó, G được xem là không có nơi cư trú ổn định.
Xét, G đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có
nơi cư trú ổn định, bên cạnh đó theo phiếu kết quả test thai ngày 15/9/2020 của
Trung Tâm Y tế thành phố K đối với G thể hiện âm tính. Do đó, Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố K đề nghị đưa G vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành
chính năm 2012 nên chấp nhận.
Về tình tiết giảm nhẹ : G có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm
nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Cho nên, cần
xét giảm nhẹ cho G khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,
Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp
lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết
định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với Phạm Thị Ngọc G, sinh năm 1989; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã C, thị xã U, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám)
tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 07 tháng 8 năm 2020).
3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành
phố K và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
Thời hạn khiếu nại của Phạm Thị Ngọc G là 03 ngày làm việc kể từ ngày
Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố K chủ trì
phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố
K đưa Phạm Thị Ngọc G vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ, TB, XH TP. K; - Ủy ban nhân dân phường S; - Công an phường S; - Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh AG; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Tòa án Tỉnh AG - Đội CSĐTTPMT-CA TP. K; - Công an TP.K; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đặng Thị Tâm |