vanban.org

Quyết định 66/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Lương Thị Ngọc T1. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 66/2025/QĐ-TAThành phốHồ Chí Minh,ngày 23 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Thường

2. Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Hằng

Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 - Thành

phố Hồ Chí Minh và Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 67/XLHC-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định mở phiên họp số 48/QĐ – TA ngày 15 tháng 9 năm 2025, đối với:

Họ và tên người bị đề nghị: Lương Thị Ngọc T1, sinh ngày 28/12/1988;

Số căn cước công dân: 074188006237; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 06/12; Nơi đăng ký HKTT: thôn D, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; con ông Lương Văn T2 và bà Vũ Thị H; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Ngày 23/8/2025, bị quản lý trong thời gian chờ xem xét xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 06 Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hải Thoại – Cán bộ Công an

phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh:

Bà Nguyễn Thị Lan Hương- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 16/8/2025, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra

hành chính, tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Lương Thị Ngọc T1, xác định Lương Thị Ngọc T1 đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên lập Biên bản vi phạm hành chính. Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/8/2025, của Trung tâm y tế thành phố P xác định Lương Thị Ngọc T1 nghiện ma tuý loại Methamphetamine (ma túy đá). Ngày 23/8/2025, Lương Thị Ngọc T1 có đơn xin từ chối cai nghiện tự nguyện tại tại gia đình, cộng đồng và tại cơ sở cai nghiện ma túy.

Do đó Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định

giao Lương Thị Ngọc T1 cho Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy số 6, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Ngọc T1. Tại văn bản số 13/ĐN-CNBB ngày 01/9/2025, của Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án xem xét, quyết định đưa Lương Thị Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

1. Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Lương Thị Ngọc T1 trên 18 tuổi,

thuộc trường hợp người nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, tính pháp lý của hồ sơ phù hợp, đầy đủ theo quy định của pháp luật; đề nghị Tòa án xem xét, quyết định đưa Lương Thị Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng đến 22 tháng.

2. Ý kiến của Lương Thị Ngọc T1: Lương Thị Ngọc T1 xác định nghiện

ma túy Methamphetamine từ năm 2021 tần suất sử dụng mỗi tuần một lần. Lương Thị Ngọc T1 không có ý kiến gì về việc lập hồ sơ và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chỉ xin được áp dụng thời hạn thấp nhất.

3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật của Tòa án

trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng trình tự, thủ tục quy định tại Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 và các quy định pháp luật. Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp xử lý đối với Lương Thị Ngọc T1 là đầy đủ và đúng quy định. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Ngọc T1 với thời hạn theo đề nghị của cơ quan đề nghị.

XÉT THẤY:

. Tính hợp pháp hồ sơ đề nghị:

Thời hiệu và thẩm quyền: Ngày 16/8/2025, Lương Thị Ngọc T1 bị Công

an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện test ma túy kết quả dương tính với ma túy đá và lập Biên bản vi phạm hành chính. Ngày 01/9/2025, Công an phường T có văn bản đề nghị Tòa án xem xét, quyết định đưa Lương Thị Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 11/9/2025, Toà án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý hồ sơ nên thẩm quyền theo quy định tại Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Cơ quan đề nghị lập hồ sơ đối với Lương Thị Ngọc T1 từ ngày 23/8/2025. Ngày 01/9/2025 có văn bản đề nghị và ngày 11/9/2025 chuyển hồ sơ cho Toà án là đúng thời hạn theo quy định tại Điều 7, Điều 10 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-3-2025.

Trình tự, thủ tục và thành phần hồ sơ: hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Ngọc T1 đã thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Cụ thể: Hồ sơ đầy đủ các tài liệu, văn bản chứng minh lý lịch, hành vi vi phạm, tình trạng cư trú, kết quả của người có thẩm quyền về tình trạng nghiện ma túy của Lương Thị Ngọc T1, đơn xin từ chối cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập và cộng đồng của Lương Thị Ngọc T1, thông báo việc lập hồ sơ, biên bản đọc hồ sơ; lời khai của Lương Thị Ngọc T1.

. Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc:

Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra, tranh luận tại

phiên họp; sau khi xem xét ý kiến của Lương Thị Ngọc T1, ý kiến của cơ quan đề nghị và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy: Lương Thị Ngọc T1 là người nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị đúng quy định. Căn cứ Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 27, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy xác định Lương Thị Ngọc T1 thuộc đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức độ nhận thức của người bị đề

nghị:

Lương Thị Ngọc T1 sử dụng ma túy lần đầu vào năm 2021, tần suất sử

dụng một tuần một lần, hình thức sử dụng là hút, loại ma túy sử dụng là ma túy đá. Nên cần có thời hạn phù hợp giúp Lương Thị Ngọc T1 cai nghiện để đoạn tuyệt được với ma túy, đồng thời phòng ngừa tệ nạn, tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp Lương Thị Ngọc T1 nhận thức rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ bản thân, nhận thức rõ việc sử dụng ma tuý là xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý. Lương Thị Ngọc T1 có thái độ thành khẩn khai báo, đồng thời có quyết tâm từ bỏ ma tuý nên được áp dụng khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính xem xét giảm nhẹ một phần thời hạn.

. Lý do và căn cứ áp dụng pháp luật:

Lý do áp dụng: Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Thị Ngọc T1 là cần thiết để quản lý, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khoẻ và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý gây ra cho bản thân Lương Thị Ngọc T1, gia đình và xã hội.

Căn cứ pháp luật: Căn cứ vào các Điều 27, Điều 32 Luật Phòng chống ma

túy, Điều 3, 6, 9, 95, 96, 104, 105, 107 và điểm b khoản 1 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; Mục 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 2, 3, 20, 23, 24, 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-3-2025.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với Lương Thị Ngọc T1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng,

thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 23 tháng 8 năm 2025.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến

nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan đề nghị - Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có trách

nhiệm tổ chức thi hành quyết định này.

Cỡ chữ