- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Văn Đ - Lê Thị H"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đặng Văn Đ và chị Lê Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 66/2022/QĐST-HNGĐ | Hải Dương, ngày 17 tháng 8 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Thanh Tuấn.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Hải Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 193/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 về việc yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con theo Quyết định mở phiên họp số 196/2022/QĐMPH-ST ngày 21 tháng 7 năm 2022, Thông báo thay đổi lịch mở phiên họp số 39/2022/TB-TA ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa:
Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình:
- Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Chị Lê Thị H, sinh năm 1989.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ hiện tại: Nhật Bản.
Người đại diện theo ủy quyền giao nhận tài liệu của chị Lê Thị H: Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự đều vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị H tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn ngày 04/12/2013 tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân là do năm 2017, chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng mỗi người ở một nước nên không thể thường xuyên quan tâm, liên lạc hỏi thăm nhau. Anh Đ đã cố gắng hàn gắn, khuyên nhủ chị H về nước để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được vì chị H không có ý định hàn gắn tình cảm và vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay. Anh Đ xác định vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
- Về quan hệ con chung: Anh Đ và chị H có 01 con chung là cháu Đặng Nhật M, sinh ngày 15/11/2014. Hiện cháu đang sinh sống với anh Đ tại Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Khi ly hôn, anh Đ và chị H cùng thống nhất thỏa thuận về việc chị H sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M. Trong thời gian chị H chưa thể về nước, anh Đ và chị H cùng thống nhất về việc anh Đ sẽ thay mặt chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu M cho đến khi chị H về nước đón cháu. Anh chị xác định cả hai đều có trách nhiệm với con nên không đặt vấn đề yêu cầu cấp dưỡng.
- Về quan hệ tài sản chung: Anh Đ và chị H cùng xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí: Anh Đ tự nguyện chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Tại phiên họp, anh Đ, chị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ sự thỏa thuận của các bên đương sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn Đ và chị Lê Thị H về việc công nhận thuận tình ly hôn. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của anh Đ và chị H, giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Đặng Nhật M cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Trong thời gian chị H ở nước ngoài, tạm giao cháu M cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
Về tố tụng: Anh Đ và chị H yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh Đặng Văn Đ hiện đang sinh sống ở Việt Nam, chị Lê Thị H có hộ khẩu thường trú tại Hải Dương, hiện đang sinh sống ở Nhật Bản nên căn cứ khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Các văn bản chị H gửi về đều có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản nên được công nhận là hợp pháp.
Chị H hiện nay sinh sống ở Nhật Bản không có điều kiện về Việt Nam nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho anh Đặng Văn Đ giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án. Anh Đ đồng ý nhận ủy quyền của chị H.
Theo Công văn số 14008/QLXNC-P5 ngày 06/7/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh, lần cuối chị Lê Thị H xuất cảnh là vào ngày 30/7/2017 qua cửa khẩu Nội Bài bằng hộ chiếu số xxxxxxxx, hiện nay chị H chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại phiên họp anh Đ, chị H vắng mặt nhưng đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên TAND tỉnh Hải Dương tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 367 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị H tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 04/12/2013 tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân là do năm 2017, chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng mỗi người ở một nước nên không thể thường xuyên quan tâm, liên lạc hỏi thăm nhau và vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay. Anh Đ và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Như vậy, tình trạng vợ chồng giữa anh Đ và chị H đã trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh chị là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Anh Đ và chị H có 01 con chung là cháu Đặng Nhật M, sinh ngày 15/11/2014. Anh Đ và chị H thống nhất thỏa thuận giao cháu M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Trong thời gian chị H chưa thể về nước, anh Đ và chị H cùng thống nhất về việc anh Đ sẽ thay mặt chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu M cho đến khi chị H về nước đón cháu. Anh chị xác định cả hai đều có trách nhiệm với con nên không đặt vấn đề yêu cầu cấp dưỡng. Thỏa thuận của anh chị phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về tài sản chung: Anh Đ và chị H cùng xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về lệ phí: Anh Đ tự nguyện chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 371, khoản 2 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đặng Văn Đ và chị Lê Thị H.
2. Công nhận sự thỏa thuận của anh Đ và chị H. Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Đặng Nhật M, sinh ngày 15/11/2014 cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị H. Chị H có quyền khởi kiện yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chị H ở nước ngoài, tạm giao cháu M cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.
Anh Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đặng Văn Đ về việc chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí do anh Đ đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai số AA/2021/0001077 ngày 23/6/2022. Anh Đ đã nộp đủ.
Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 17/8/2022./.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã C, huyện T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu tòa. | Vũ Thanh Tuấn |