- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BẮC NINH Bản án số: 66/2021/HS-ST |
Ngày: 17-09-2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Hà.
Các Hội thẩm dân nhân: Ông Nguyễn Đăng Dũng và ông Nguyễn Đình Quế
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Yến - Thư ký TAND huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cao Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 09 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 08 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 09 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Văn T1, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân Y và bà Đinh Thị P; Vợ: Nguyễn Thị Thu V; có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/6/2017, Tiến bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 22/6/2017, Tiến đã nộp số tiền này; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1985; Nơi KĐHKTT: thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 15 phút ngày 19 tháng 05 năm 2021, tại đường bê tông đi từ cầu Đ vào nghĩa trang thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an xã X, huyện T trong lúc tuần tra đã phát hiện 01 đối tượng nghi vấn có biểu hiện vi phạm pháp luật về ma túy. Vì vậy, lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra hành chính, đối tượng tự khai tên là Trần Văn T1, sinh năm 1986 trú tại thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Qua kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện và thu giữ được tại túi quần phía trước bên trái Tiến đang mặc có 02 ống tiêm y tế trong đó 01 ống tiêm y tế bằng nhựa loại 03ml/cc, trên đầu ống tiêm có gắn một kim tiêm, kim tiêm được đậy bằng một nắp nhựa. Trên kim tiêm và trong nắp bằng nhựa có bám dính chất màu đỏ. Trong ống tiêm, vị trí dưới pit tông có chứa chất bột màu trắng dạng cục (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1) và 01 ống tiêm y tế bằng nhựa, loại 03ml/cc, trên đầu ống tiêm có gắn một kim tiêm, kim tiêm được đậy bằng một nắp nhựa. Trên kim tiêm và trong nắp nhựa có bám dính chất màu đỏ (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2). Tiến khai đó là ma túy Heroine vừa mua được với giá 100.000 đồng. Tiến đã sử dụng 1 phần, phần còn lại mang về nhà với mục đích để tiếp tục sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của Tiến: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A11, gắn sim số 0949.893.568 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave anpha màu xanh, biển kiểm soát: 99F1 – 434.23. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Tiến về bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 19/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 106 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chất ma túy đối với số vật chứng đã thu giữ của Tiến.
Tại bản kết luận giám định số 399 ngày 21/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất màu trắng dạng cục trong ống tiêm, bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,1561 gam; là ma túy; loại ma túy Heroine. Chất màu đỏ bám dính trên kim tiêm và nắp đậy kim tiêm của ống tiêm bên trong phong bì thư ký hiệu M1, M2 không tìm thấy chất ma túy.
Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T Trần Văn T1 khai nhận:
Tiến nghiện ma túy Heroine từ năm 2019, hình thức sử dụng chích vào cơ thể. Tiến được người bạn cho số điện thoại 0818.565.239 và bảo người đàn ông
2
sử dụng số điện thoại này có bán ma túy Heroine. Khoảng 06 giờ sáng ngày 19/05/2021, Tiến nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng nên Tiến sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A11 lắp sim số 0949.893.568 (điện thoại của vợ Tiến là bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1985 trú tại thôn D, xã X, huyện T) gọi điện vào số 0818.565.239 để hỏi mua ma túy để sử dụng. Qua nói chuyện điện thoại Tiến hỏi mua của người này 100.000 đồng ma túy Heroine thì người này đồng ý. Tiến và người đàn ông này hẹn gặp nhau tại đường quốc lộ 17 đoạn gần Học viện Tòa án thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội để giao ma túy. Sau đó, Tiến một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh gắn biển kiểm soát: 99F1 – 434.29 của vợ Tiến đi đến điểm hẹn. Khi sử dụng điện thoại và điều khiển xe mô tô của chị Vịnh, Tiến không nói cho chị Vịnh biết mục đích là để đi mua ma túy. Trước khi đi, Tiến có mang theo 01 ống tiêm y tế loại 03 ml/cc đã đổ sẵn nước sôi để nguội bên trong. Khi ra đến nơi, Tiến gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, cao gầy, mặc quần soóc, áo cộc tay màu trắng, đeo khẩu trang y tế màu xanh, đi xe mô tô nhãn hiệu HonDa Dream không rõ biển kiểm soát là người đã hẹn Tiến. Tại đây, Tiến hỏi người này: “Em là người vừa gọi điện thoại cho anh để mua hàng”. Người đàn ông này hỏi Tiến: “Tiền đâu?” thì Tiến lấy 100.000 đồng đưa cho người đàn ông này. Người đàn ông này cầm tiền và đưa lại cho Tiến một tờ giấy ăn màu trắng được vo tròn. Tiến cầm và mở ra thì thấy bên trong có ma túy Heroine, dạng cục màu trắng. Sau khi mua được ma túy, Tiến điều khiển xe mô tô đến khu vực bãi rác đối diện Học viện Tòa án để sử dụng. Tại đây, Tiến cho ma túy Heroine từ tờ giấy ăn vào trong một ống tiêm y tế mang đi trước đó và sử dụng. Tiến sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, Tiến cất ống tiêm bên trong có chứa ma túy heroine chưa sử dụng hết vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Lúc này, Tiến thấy 01 ống tiêm y tế loại 03ml/cc trong 1 túi ni lông màu hồng còn mới ở dưới nền đất gần chỗ Tiến đứng nên Tiến đã nhặt và đút vào túi quần phía trước bên trái Tiến đang mặc (ống tiêm y tế này là ống tiêm trước đây Tiến đã sử dụng ma túy và để lại đó). Sau đó, Tiến điều khiển xe mô tô đi về nhà. Trên đường về khi đi đến đoạn đường bê tông gần nghĩa trang thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thì bị tổ công tác công an xã X kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Từ những tình tiết nêu trên, Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 26/08/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố Trần Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như đã nêu ở trên. Tiến khai chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave màu xanh biển kiểm soát: 99F1 – 434.23 và chiếc điện thoại SamSung Galaxy A11, gắn sim số 0949.893.568 Công an thu giữ của bị cáo là tài sản của vợ bị cáo. Bị cáo không nói cho vợ biết gì về việc đã sử dụng tài sản vào việc đi mua ma túy. Bản thân bị cáo và nhân thân không được tặng thưởng gì trong quá trình sinh sống và làm việc.
Bà Nguyễn Thị Thu V khai: Lời khai của Tiến về chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave màu xanh biển kiểm soát: 99F1 – 434.23 và chiếc điện thoại SamSung Galaxy A11, gắn sim số 0949.893.568 là đúng. Bà Vịnh không biết việc Tiến đã sử dụng tài sản vào việc phạm tội. Bà Vịnh đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe, còn chiếc điện thoại bà xin được nhận lại để cho con học trực tuyến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, kết luận Trần Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn T1 từ 13 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2021.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự;
+ Trả lại chị Nguyễn Thị Thu V 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A11, gắn sim số 0949.893.568.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoàn toàn nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ. Căn cứ vào kết luận giám định và các tài liệu trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận: Hồi 07 giờ 15 phút ngày 19 tháng 05 năm 2021, tại thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã X trong lúc làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đã phát hiện và bắt quả tang Trần Văn T1 đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1561 gam chất ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Trần Văn T1 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất cũng như tinh thần của người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Người sử dụng ma túy có lối sống buông thả, thoái hóa nhân cách, làm suy kiệt giống nòi, còn dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo hiểu rõ được tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân nhưng vẫn cố ý thực hiện do vậy cần xử lý kịp thời và nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trần Văn T1 là đối tượng có nhân thân xấu, có một tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” đã được xóa. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục Trần Văn T1 trở thành công dân có ích. Mức hình phạt tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với bị cáo là phù hợp. Bị cáo tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
5
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Tiến: Tiến khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ của người này, chỉ biết người này sử dụng số điện thoại 0818.565.239. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Dream người này điều khiển, Tiến không nhớ biển kiểm soát của xe. Quá trình điều tra xác định được chủ thuê bao đăng ký số điện thoại 0818.565.239 là bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1960 trú tại thôn Giao Tự, xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, đăng ký bằng chứng minh thư nhân dân số 0113.196.85 của bà Hiền. Bà Hiền khai nhận, không sử dụng số điện thoại 0818.565.239, không sử dụng chứng minh thư của mình để đăng ký số điện thoại này. Ngoài ra, bà Hiền không quen biết Trần Văn T1, không bán ma túy cho Tiến ngày 19/5/2021. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để xác minh làm rõ về người đàn ông đã bán ma túy cho Tiến.
Đối với người bạn đã cho Tiến số điện thoại 0818.565.239: Tiến khai không nhớ tên, tuổi địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để xác minh làm rõ về người này.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave màu xanh biển kiểm soát: 99F1 – 434.23: Quá trình điều tra xác định được là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu V. Ngày 19/5/2021, khi cho Tiến mượn chiếc xe này, bà Vịnh không biết Tiến sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy. Ngày 21/5/2021, bà Vịnh đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát: 99F1 – 434.23 mang tên Nguyễn Thị Thu V. Vì vậy, ngày 21/7/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 20, trả lại chị Vịnh chiếc xe và giấy chứng nhận đăng ký xe là phù hợp quy định pháp luật
Về vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo, bị cáo đã sử dụng liên hệ mua ma túy là điện thoại của chị Vịnh. Chị Vịnh không biết Tiến mượn để sử dụng vào việc phạm tội. Chị Vịnh có đề nghị xin nhận lại để cho con học trực tuyến nên trả lại cho chị Vịnh là phù hợp.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 329; 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
6
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, xử phạt Trần Văn T1 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/05/2021.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
2. Vật chứng: + Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự;
+ Trả lại chị Nguyễn Thị Thu V 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A11, gắn sim số 0949.893.568.
3. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND, CCTHADS H. T; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. 7 | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa (đã ký) Vương Thị Hà |