vanban.org

Quyết định 66/2019/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc truy nhận cha mẹ cho con TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – TP ĐÀ NẴNG Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 66/2019/QĐST-VHNGĐNgũ Hành Sơn, ngày 02 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc truy nhận cha mẹ cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – TP ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Lâm

Thư ký phiên họp: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Cán bộ Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thúy Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 54/2019/TLST-VHNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 về việc truy nhận cha mẹ ruột cho con theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VHNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Phùng Quốc Đ. Sinh năm: 1963 - có mặt Trú tại: Tổ 26 phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn H. Sinh năm: 1955 - có đơn xin vắng mặt Trú tại: Số 10 Bàu B, phường 13, quận Tân B1, TP. Hồ Chí Minh;

2. Ông Nguyễn Văn K. Sinh năm: 1957 - có đơn xin vắng mặt

Trú tại: Ấp Trung T, xã Xuân L, TP. Long K1, tỉnh Đồng Nai;

3. Bà Nguyễn Thị G. Sinh năm: 1959 - có đơn xin vắng mặt

Trú tại: Ấp Trung T, xã Xuân L, TP. Long K1, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Cha mẹ ông Đ là Nguyễn Văn Ngh và Huỳnh Thị H (quê quán thôn Trang Điền, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) sinh được 5 người con Nguyễn H, sinh 1955; Nguyễn Văn K, sinh năm 1957; Nguyễn Thị G, sinh năm 1959; ông Nguyễn Văn N tức là Phùng Quốc Đ, sinh năm 1963 và Nguyễn Thị U, sinh năm 1964 đã chết từ nhỏ.

Năm 1964 cha ông Đ hi sinh, đến năm 1968 mẹ ông Đ cũng hi sinh. Các anh chị em ruột ông Đ còn nhỏ nên anh H, anh K và em U được bác ruột là ông Nguyễn Hoành tại TP. Hồ Chí Minh nhận nuôi dưỡng được một thời gian thì em U bị bệnh chết. Chị G sống với cô ruột là Nguyễn Thị Mười tại TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Còn ông Đ được bác Nguyễn Văn Ánh trú tại phường Phước Hải, quận 3, TP. Đà Nẵng nuôi dưỡng. Đến năm 1971 ông Đ đi bán kem và bị thất lạc đến phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn không nhớ đường về nhà. Lúc đó ông Đ được ông Phùng Quốc Quảng (chết năm 1975) và bà Trần Thị Chít (chết năm 2008) nhận về làm con nuôi và đặt tên Phùng Quốc Đ và sinh sống với cha mẹ. Đến năm 1979 ông Đ đi nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ năm 1982 và sinh sống tại Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn.

Thông qua chương trình “Như chia hề có cuộc chia ly” của đài truyền hình Việt Nam trên VTV1 ngày 01/7/2017, ông Đ và các anh chị em ruột tìm lại được nhau. Sau đó ông Đ và anh Nguyễn H đã tiến hành kiểm tra ADN, kết quả giám định xác định ông Đ và ông H có quan hệ huyết thống theo dòng họ nội. Để đảm bảo quyền lợi cho ông Đ và tìm về cội nguồn ông bà nên ông Đ yêu cầu Tòa án truy nhận ông Nguyễn Văn Ngh và bà Huỳnh Thị H là cha mẹ ruột.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận nội dung đơn của ông Phùng Quốc Đ yêu cầu Tòa án công nhận ông Nguyễn Văn Ngh và bà Huỳnh Thị H là cha mẹ đẻ của ông Phùng Quốc Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng nhận định: [1] Việc ông Phùng Quốc Đ làm đơn yêu cầu truy nhận cha mẹ ruột cho ông là thuộc quyền công dân được pháp luật bảo vệ và ông đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu của mình theo đúng quy định pháp luật, đơn yêu cầu của ông Đ có hình thức và nội dung đầy đủ theo quy định tại Điều 362 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi người yêu cầu cung cấp đầy đủ các chứng cứ liên quan thấy rằng nội dung yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn được quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự “Yêu cầu truy nhận cha cho con” của Phùng Quốc Đ đề ngày 20/5/2019 được tóm tắt như sau:

Cha mẹ ông là Nguyễn Văn Ngh và Huỳnh Thị H (quê quán thôn Trang Điền, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) sinh được 5 người con Nguyễn H, sinh 1955; Nguyễn Văn K, sinh năm 1957; Nguyễn Thị G, sinh năm 1959; tôi Nguyễn Văn N, sinh năm 1973 và Nguyễn Thị U, sinh năm 1964 đã chết từ nhỏ.

Năm 1964 cha ông Đ hi sinh, đến năm 1968 mẹ ông Đ cũng hi sinh. Các anh chị em ruột ông Đ còn nhỏ nên anh H, anh K và em U được bác ruột là ông Nguyễn Hoành tại TP. Hồ Chí Minh nhận nuôi dưỡng được một thời gian thì em U bị bệnh chết. Chị G sống với cô ruột là Nguễn Thị Mười tại TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Còn ông Đ được bác Nguyễn Văn Ánh trú tại phường Phước Hải, quận 3, TP. Đà Nẵng nuôi dưỡng. Đến năm 1971 ông Đ đi bán kem và bị thất lạc đến phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng không nhớ đường về nhà. Lúc đó ông Đ được ông Phùng Quốc Quảng và bà Trần Thị Chít nhận về làm con nuôi và đặt tên Phùng Quốc Đ và sinh sống với cha mẹ. Đến năm 1979 ông Đ đi nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ năm 1982 và sinh sống tại Hòa Qúy.

Thông qua chương trình “Như chia hề có cuộc chia ly” của đài truyền hình Việt Nam trên VTV1 ngày 01/7/2017, ông Đ và các anh chị em ruột tìm lại được nhau. Sau đó ông Đ và ông Nguyễn H đã tiếm hành kiểm tra ADN, kết quả giám định xác định ông Đ và ông H có quan hệ huyết thống theo dòng họ nội. Để đảm quyền lợi cho ông Đ và tìm về cội nguồn ông bà nên ông Đ yêu cầu Tòa án truy nhận ông Nguyễn Văn Ngh và bà Huỳnh Thị H là cha mẹ ruột. [3] Qua đơn trình bày của ông Phùng Quốc Đ Tòa án thấy rằng: Việc ông Phùng Quốc Đ xác nhận ông Nguyễn Văn Ngh và bà Huỳnh Thị H là cha mẹ ruột của ông Đ là hoàn toàn có thật, quá trình ông Đ sinh sống ông được Nguyễn Văn Ánh là bác, trú tại phường Phước Hải, quận 3, TP. Đà Nẵng nuôi dưỡng. Đến năm 1971 ông Đ đi bán kem và bị thất lạc đến phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn không nhớ đường về nhà. Lúc đó ông Đ được ông Phùng Quốc Quảng và bà Trần Thị Chít nhận về làm con nuôi và đặt tên Phùng Quốc Đ, điều đó được chứng minh bởi các tài liệu, chứng cứ sau: Thông qua chương trình “Như chia hề có cuộc chia ly” của đài truyền hình Việt Nam trên VTV1 ngày 01/7/2017, ông Đ và các anh chị em ruột đã tìm lại được nhau. Sau đó ông Đ và ông Nguyễn H đã tiến hành giám định ADN, theo phiếu kết quả phân tích ADN ngày 27/9/2017 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền xác định ông Đ và ông H có quan hệ huyết thống theo dòng họ nội.

Theo đơn trình bày ý kiến của ông Nguyễn H được Văn phòng công chứng Ninh Thị Hiền, TP. Hồ Chí Minh chứng thực ngày 13/5/2019; của ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị G được UBND xã Xuân L, thị xã Long K1, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 13/5/2019 đều thống nhất với yêu cầu của ông Phùng Quốc Đ về việc truy nhận ông Nguyễn Văn Ngh và bà Huỳnh Thị H là cha mẹ ruột của ông Phùng Quốc Đ.

Qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên họp về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phùng Quốc Đ về việc truy nhận cha mẹ cho con là có căn cứ. [4] Từ những nhận định trên, xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phùng Quốc Đ về việc truy nhận cha mẹ cho con, nhằm tạo điều kiện cho ông Đ được nhìn nhận huyết thống cũng như cha mẹ đẻ của mình. [5] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng, ông Phùng Quốc Đ phải chịu.

QUẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phùng Quốc Đ về việc truy nhận cha mẹ cho con.

Tuyên bố: Ông Nguyễn Văn Ngh và bà Huỳnh Thị H; quê quán thôn Trang Điền, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cả hai đã mất) là cha đẻ và mẹ đẻ của của ông Phùng Quốc Đ, sinh năm: 1963; Trú tại: Tổ 26 phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng.

- Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, Phùng Quốc Đ phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0003249 ngày 20/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

- Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ