- Tranh chấp gì? "hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 66/2019/QĐ-TA | Thủ Đức, ngày 04 tháng 3 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
2. Thư ký phiên họp: Ông Hà Văn Đoàn
Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh , Tòa án nhân dân quận Thủ Đức tiến hành phiên họp
sơ thẩm công khai để giải quyết hồ sơ thụ lý số 50/2019/TLST-HC ngày
25/02/2019 về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 55/QĐ-TA ngày 25 tháng
02 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Lê Đ
Giới tính: Nam.
Sinh năm: 1998.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có.
Trình độ văn hoá: 10/12.
Nguyên quán: tỉnh Bình Thuận.
Hộ khẩu thường trú: 166/21/3 Đặng Văn Bi, khu phố 1, phường A, quận
B, Thành phố C.
Chỗ ở hiện nay: 166/21/3 Đặng Văn Bi, khu phố 1, phường A, quận B,
Thành phố C.
Nghề nghiệp: Công nhân.
Tiền án, tiền sự: Theo tài liệu thể hiện trong hồ sơ:
- Ngày 21/9/2017, bị lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng
ma túy.
- Ngày 20/4/2018, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi
sử dụng ma túy.
Con ông: Lê Dũng và bà: Đặng Thị Ngọc Vân.
(Có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phạm Đức Trung - Chức vụ: Phó
Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Bá Thu Thư - Kiểm sát viên (có mặt).
NHẬN THẤY:
Ngày 20/4/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Thọ, quận Thủ
Đức ban hành Quyết định số 138/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với ông Lê Đ, thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 20/4/2018 đến ngày 20/7/2018. Ông Lê Đ đã chấp hành xong quyết định theo Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND ngày 20/7/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Thọ, quận Thủ Đức.
Ngày 20/01/2019, Công an phường Bình Thọ, quận Thủ Đức lập biên
bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa ông Đ đi xét nghiệm chất ma túy. Tại Phiếu xét nghiệm và Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 20/01/2019 của Trạm Y tế phường Bình Thọ, quận Thủ Đức xác định ông Đ dương tính với chất ma túy.
Quá trình tiến hành xác minh tình trạng cư trú, thu thập chứng cứ về độ
tuổi, nhân thân của người nghiện ma túy, xác định ông Lê Đ đủ 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định.
Tại bản tường trình của ông Lê Đ cũng như biên bản ghi lời khai do
Công an phường Bình Thọ, quận Thủ Đức lập, thể hiện: Ông Lê Đ xác nhận có sử dụng ma tuý, lầ n cuố i ông sử dụ ng là vào ngà y 18/01/2019.
Do đó, tại Văn bản số 152/LĐTB ngày 20/02/2019 của Phòng Lao động -
Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Lê Đ vào cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc là Cơ sở cai nghiện ma túy Bình Triệu; cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh.
Tại phiên họp, Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận
Thủ Đức giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đ trong thời gian từ 15 đến 18 tháng.
Người bị đề nghị ông Lê Đ thừa nhận hành vi vi phạm hành chính là sử
dụng trái phép chất ma túy, đối với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, ông Đ không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông
Lê Đ đã thực hiện đúng về thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, quyết định mở
phiên họp và tại phiên họp đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Luật
xử lý vi phạm hành chính và các văn bản dưới luật quy định. Đương sự thực
hiện đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra
tại phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại
diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, có cơ sở xác định:
Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề
nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với ông Lê Đ là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh, có trụ sở tại quận Thủ Đức nên Tòa án nhân dân quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền xem xét yêu cầu trên của
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức theo quy định tại
khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Căn
cứ vào lời khai của ông Lê Đ thì ông có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
lần cuối là vào ngày 18/01/2019. Ngày 04/3/2019, Tòa án nhân dân quận Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét yêu cầu áp dụng
biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đ
là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi
phạm hành chính.
Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đ đã được cơ quan chức năng
thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều 103; Điều
104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8;
các Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của
Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của
Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-
CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Lời thừa nhận việc sử dụng trái phép ma túy của ông Lê Đ phù hợp với
những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như biên bản vi phạm hành chính, bản
tường trình, kết quả và biên bản xét nghiệm ma túy, cùng các tài liệu, chứng cứ
khác về độ tuổi, tình trạng cư trú của ông Đ. Có đủ cơ sở pháp lý kết luận ông
Lê Đ là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính; đã bị áp dụng
biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy theo Quyết định số 138/QĐ-
UBND ngày 20/4/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Thọ, quận Thủ Đức và đã chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND ngày 20/7/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Thọ, quận Thủ Đức nhưng vẫn tiếp tục tái nghiện; ông Đ có nơi cư trú ổn định, là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, việc Phòng Lao Động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đ theo Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ pháp luật.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Lê Đ đã vi phạm trật tự,
an toàn xã hội, nghiện ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe của bản thân, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần, mà còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Theo tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên họp, ông Đ khai đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên ông Đ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đồng ý mức thời gian đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức do đó Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian cần thiết để ông Đ được cai nghiện, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, để ông được tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 9; Điều 95;
Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều
11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Căn cứ Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 9; Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30;
Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với ông Lê Đ.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc: Cơ sở cai nghiện
ma túy Bình Triệu.
Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy
Đức Hạnh.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm)
tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để
đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt
buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, cơ
quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết
định, ông Lê Đ có quyền khiếu nại; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội
quận Thủ Đức có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức có
quyền kháng nghị quyết định của Tòa án. Đơn khiếu nại, văn bản kiến nghị,
kháng nghị phải gửi đến Tòa án nhân dân quận Thủ Đức nêu rõ lý do và căn cứ.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến
nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy Bình Triệu, Cơ
sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Cơ sở cai nghiện ma túy Bình Triệu; - Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh; - Phòng LĐ - TB và XH quận Thủ Đức; - UBND phường Bình Thọ; - Công an phường Bình Thọ; - VKSND quận Thủ Đức; - Công an quận Thủ Đức; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hồng Nga |