- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Phạm Thị H - Lê Văn H1"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H2, ông Phạm Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 659/2022/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 11 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Tú Oanh
Các Thẩm phán: Bà Đặng Huyền Phương
Bà Đỗ Thị Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diễm – Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 199/2022/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1970
Địa chỉ thường trú: 8B Lô 20 TH, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh..
Địa chỉ cư trú: số 1/9 Khu phố G, phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1977
Địa chỉ thường trú: 8B Lô 20 TH, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh..
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1968
Địa chỉ thường trú: 8B Lô 20 TH, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: số 1/9 Khu phố G, phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1973
Địa chỉ cư trú: số nhà 175/71A đường TQ, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Đơn kháng cáo đề ngày 10/6/2022, bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn L, và bà Phạm Thị H2 cho rằng các ông bà thiếu hiểu biết, kiến thức pháp luật hạn chế, Thẩm phán sơ thẩm đe dọa, ép buộc ký vào tất cả các giấy tờ mà không đưa ra một lời giải thích lý do và hậu quả pháp lý, vì vậy các ông bà kháng cáo Quyết định đình chỉ số 199/2022/QĐST-DS ngày 24/5/2022 yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét quyết định này.
XÉT THẤY:
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 199/2022/QĐST-DS của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành ngày 24/5/2022. Thẩm phán sơ thẩm đã giao cho bà H, bà H2 ngày 30/5/2022, bà H cư trú cùng địa chỉ và cam kết nhận thay Quyết định đình chỉ cho ông L. Đến ngày 10/6/2022, bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn L và bà Phạm Thị H2 nộp đơn kháng cáo. Như vậy, việc kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định và đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận về mặt hình thức.
Theo nội dung đơn kháng cáo các ông bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn L và bà Phạm Thị H2 cho rằng bản thân thiếu hiểu biết, kiến thức pháp luật hạn chế, Thẩm phán sơ thẩm đe dọa, ép buộc bà H ký vào tất cả các giấy tờ mà không đưa ra một lời giải thích lý do và hậu quả pháp lý, vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 199/2022/QĐST-DS ngày 24/5/2022, của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo đơn xin rút đơn khởi kiện ngày 24/5/2022 có trong hồ sơ vụ án, bà Phạm Thị H có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện với lý do các đương sự muốn tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết vụ án, bà H cam đoan việc rút lại yêu cầu khởi kiện của bà là hoàn toàn tự nguyện và chịu mọi trách nhiệm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H2 và ông L không có đơn yêu cầu độc lập.
Xét thấy, đơn xin rút đơn khởi kiện do nguyên đơn tự viết và ký là hoàn toàn tự nguyện, người kháng cáo không cung cấp chứng cứ thể hiện bị Thẩm phán sơ thẩm gây khó khăn cũng như đưa ký các giấy tờ nhưng không giải thích lý do cũng như hậu quả pháp lý, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H2 và ông L không có đơn yêu cầu độc lập, cho nên Thẩm phán căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 199/2022/QĐST-DS ngày 24/5/2022 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị Hội đồng phiên họp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tuyên giữ nguyên nội dung quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H2, ông Phạm Văn L.
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 199/2022/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H, ông L, bà H2 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm các ông bà mỗi người đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lần lượt theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0017085 ngày 10/6/2022, AA/2021/0017086 ngày 10/6/2022 và AA/2021/0017084 ngày 10/6/2022của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - TAND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án (T/15). ‘ | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phan Thị Tú Oanh |