vanban.org

Quyết định 65/2023/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 09/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung là Trần Vũ Bảo N, sinh ngày 27/9/2010 và cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 26/9/2013 cho anh Trần Hải Tuấn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác (Ông Trần Hải H thay anh Trần Hải T nuôi dưỡng cháu Trần Vũ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Huyền T"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 65/2023/QĐST-HNGĐHà Tĩnh, ngày 09 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Ông Hồ Đức Quang

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Ngô Khánh Chi

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 279/TB-TLVA ngày 14 tháng 12 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 65/2023/QĐ-TA ngày 22 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Chị Vũ Thị Huyền T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Đội 3, thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Anh Trần Hải T, sinh năm 1985. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn 2, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Nhật Bản. Đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn của chị Vũ Thị Huyền T, ý kiến thống nhất toàn bộ yêu cầu ly hôn của anh Trần Hải T, cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc dân sự có nội dung:

* Về tình cảm: Chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T đăng ký kết hôn vào ngày 03/01/2010 tại UBND xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Hôn nhân hợp pháp, trên cơ sở tình yêu, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung. Năm 2016 và năm 2017, lần lượt vợ chồng sang Nhật Bản làm ăn được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã. Nhận thấy, tình cảm không còn, đời sống vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa nên chị Trang và anh Tuấn đều thừa nhận đã không còn tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn, níu kéo cũng không hạnh phúc. Đến nay, hai vợ chồng cùng xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, hàn gắn nên đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

* Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Vũ Bảo N, sinh ngày 27/9/2010 và cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 26/9/2013. Hiện 02 con chung đang sống cùng ông bà nội. Cả hai thống nhất giao các con chung cho anh Trần Hải T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (Ông Trần Hải H thay anh Trần Hải T nuôi dưỡng cháu Trần Hải Đ và cháu Trần Vũ Bảo N trong thời gian anh Trần Hải T đi vắng); chị Vũ Thị Huyền T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai ngăn cấm.

* Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình anh Trần Hải T đang ở Nhật Bản không về Việt Nam được nên không thể tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án, anh đề nghị được giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho ông Trần Hải H trú tại Thôn 2, xã Hà, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 28, 37, 227, 469, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 55, 57, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của các đương sự: Về tình cảm: Công nhận chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T thuận tình ly hôn; Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung là Trần Vũ Bảo N, sinh ngày 27/9/2010 và cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 26/9/2013 cho anh Trần Hải T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; các vấn đề khác đương sự không yêu cầu, đã thống nhất nên không xem xét.

Về lệ phí: Các đương sự phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T theo thủ tục chung.

Tại Công văn số 25563/QLXNC-P5 ngày 28/11/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện “Anh Trần Hải T, sinh ngày 16/5/1985 lần xuất cảnh gần nhất ngày 30/7/2022 qua Cửa khẩu sân bay Quốc tế Nội Bài và chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình giải quyết, anh Trần Hải T thông qua hình thức gọi điện thoại đã trình bày ý kiến liên quan đến nội dung chị Vũ Thị Huyền T khởi kiện. Theo đó, anh Trần Hải T đồng ý ly hôn với chị Vũ Thị Huyền Tr; về con chung: Thống nhất giao các con chung cho anh Trần Hải T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (Ông Trần Hải H thay anh Trần Hải Tuấn nuôi dưỡng cháu Trần Hải Đ và cháu Trần Vũ Bảo N trong thời gian anh Trần Hải T đi vắng); chị Vũ Thị Huyền T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai ngăn cấm; về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong thời gian đi làm ăn xa, anh Trần Hải T ủy quyền giao, nhận tài liệu của Tòa án cho bố ruột là ông Trần Hải H trú tại Thôn 2, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/3/2023, chị Vũ Thị Huyền T đã thống nhất toàn bộ quan điểm của anh Trần Hải T trên các phương diện tình cảm; con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng; tài sản chung, nợ chung. Chị T đề nghị tòa án xem xét công nhận cho chị và anh Tuấn thuận tình ly hôn dựa trên các nội dung mà hai bên đã thống nhất.

Trên tinh thần Công văn số 253/TANDTCPC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án sẽ tống đạt các tài liệu, văn bản tố tụng cho người được ủy quyền giao nhận tài liệu của đương sự hiện đang ở nước ngoài và quyết định chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án Hôn nhân gia đình thành việc Hôn nhân gia đình.

Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T được xây dựng trên cơ sở tình yêu, tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, có đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 9, Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống được một thời gian thì năm 2016 và năm 2017, vợ chồng lần lượt sang Nhật Bản làm ăn, do bất đồng trong suy nghĩ, thường xuyên cãi vã nên tình cảm vợ chồng rạn nứt. Chị T và anh T đều thừa nhận đã không còn tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn, níu kéo cũng không hạnh phúc. Hai vợ chồng đều khẳng định không thể tiếp tục gắn bó tình cảm nên yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn…” (Điều 55).

Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T hiện nay không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai vợ chồng đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T, anh T như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận ly hôn giữa các đương sự, giải quyết cho chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T được thuận tình ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

Về quan hệ con chung:

Sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn của chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung; mặt khác các cháu Trần Vũ Bảo N, Trần Hải Đ đều có đơn trình bày nguyên vọng mong muốn được ở với bố Trần Hải T.

Anh Trần Hải T hiện đang cư trú tại nước ngoài nên không thể thực hiện việc nuôi con, anh Tuấn đã thống nhất nhờ ông Trần Hải H trú tại Thôn 2, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (bố ruột anh T) nuôi dưỡng cháu Trần Vũ Bảo N, sinh ngày 27/9/2010 và cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 26/9/2013 trong thời gian anh đi làm ăn xa. Ông Trần Hải H đã có văn bản về việc tình nguyện nuôi dưỡng cháu Trần Vũ Bảo N và cháu Trần Hải Đ trong thời gian anh T chưa về nước.

Cần công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau ly hôn của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Về án phí: Chị Vũ Thị Huyền T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 29, 35, 37, 39, 227, 361, 367, 369, 370, 371, 469, 479 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 3 Điều 2, các Điều 19, 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 27, 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Huyền T và anh Trần Hải T.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung là Trần Vũ Bảo N, sinh ngày 27/9/2010 và cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 26/9/2013 cho anh Trần Hải Tuấn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác (Ông Trần Hải H thay anh Trần Hải T nuôi dưỡng cháu Trần Vũ Bảo N và cháu Trần Hải Đ trong thời gian anh T đi vắng), chị Vũ Thị Huyền T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Vũ Thị Huyền T theo biên lai số 0000436 ngày 12/12/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

6. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 09/5/2023.

Cỡ chữ