vanban.org

Quyết định 65/2023/QĐ-TA

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 13/09/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Châu Ngọc T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 tháng (Mười hai tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3/ Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Châu Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ A
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 65/2023/QĐ-TAA, ngày 13 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ A

TỈNH B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Hà Thị Q

2. Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Minh T

Ngày 13/9/2023 tiến hành mở phiên họp tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố A đưa ra xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, theo Quyết định mở phiên họp số 72 ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với:

Châu Ngọc T, sinh ngày 13/9/1990; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố 2, phường C, thành phố A, tỉnh B; con ông Châu Ngọc T, sinh năm 1965 (chết); con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970, nghề nghiệp: Nội trợ. Nơi cư trú: Khu phố 2, phường C, thành phố A, tỉnh B.

Tiền án: có 01 tiền án; Tiền sự: Không.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Tại phiên họp có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thế H – Phòng Lao động -Thương binh xã hội thành phố A.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố A: Bà Huỳnh Nhã U - Kiểm sát viên.

3. Đại diện Công an phường C: Ông Nguyễn Hoàng Minh T– Cán bộ Công an phường C, thành phố A.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên họp thể hiện:

Châu Ngọc T, sinh ngày 13/9/1990; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố 2, phường C, thành phố A, tỉnh B; con ông Châu Ngọc T, sinh năm 1965 (chết); con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970, nghề nghiệp: Nội trợ. Nơi cư trú: Khu phố 2, phường C, thành phố A, tỉnh B. Ngày 20/7/2023, Công an phường C tổ chức xét nghiệm nước tiểu của Châu Ngọc T xác định kết quả là “Dương tính” với Methamphetamine (Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số TP 291-23 ngày 20/7/2023 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B).

Ngày 01/8/2023, Chủ tịch UBND phường C ban hành Quyết định số 746/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 09/8/2023, Chủ tịch UBND phường C có Công văn số 783/ĐN-CNBB về việc đề nghị Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố A áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Châu Ngọc T

Ngày 07/9/2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có Công văn 1469/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố A xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh B đối với Châu Ngọc T

* Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội:

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Châu Ngọc T là trái với quy định của pháp luật. Đề nghị đưa Châu Ngọc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 15 tháng – 18 tháng.

* Ý kiến của đại diện Công an phường C:

Châu Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy ở địa phương, Công an phường C đã nhiều lần kiểm tra và phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng sau đó Châu Ngọc T vẫn tái phạm. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc.

* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố A:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định, Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đồng ý với ý kiến của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội đề nghị đưa Châu Ngọc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố A, Công an phường C đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp, thể hiện rõ hành vi vi phạm của người bị đề nghị.

Xét thấy Châu Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy tại địa bàn phường C, thành phố A. Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện Châu Ngọc T khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2010, đến ngày 16/7/2023 bị Công an phường C phát hiện Châu Ngọc T đã sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực Chợ A, thuộc phường N, thành phố A. Ngày 20/7/2023, Công an phường C tổ chức xét nghiệm nước tiểu Châu Ngọc T xác định kết quả là “Dương tính” với Methamphetamin (Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số TP 291-23 ngày 20/7/2023 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B). Do đó, đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố A, ý kiến của Công an phường C, phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố A tại phiên họp là có căn cứ. Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp giúp Châu Ngọc T từ bỏ ma túy, sớm trở về hòa nhập với gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.

Châu Ngọc T có 01 tiền án. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ đề nghị, Châu Ngọc T đã tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính, nên cần xem xét khi quyết định thời hạn áp dụng.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ:

- Điều d khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;

- Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Điều 2, Điều 3, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”;

- Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

- Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Châu Ngọc T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 tháng (Mười hai tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; trường hợp vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày niêm yết quyết định.

- Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố A có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát thành phố A có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố A phối hợp với Công an thành phố A đưa Châu Ngọc T vào sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh B.

Cỡ chữ