vanban.org

Quyết định 65/2019/QĐHNGĐ-ST — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 22/11/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy Hương - Nguyễn Văn Luyện"
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 65/2019/QĐHNGĐ- ST
Ngày: 22/11/2019
V/v: Yêu cầu công nhận thuận tình
ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!HẢI!DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia định:

Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà – Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Quyên – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 236/2019/TLST-HNGĐ ngày 23/8/2019, về việc ‘‘Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con chung". Theo Quyết định mở phiên họp số 143/2019/QĐMPH-HNGĐ ngày 22/10/2019 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên họp ngày 06/11/2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

1. Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 21/3/1991.

ĐKHKTT: Đội 8, thôn L, xã T, huyện Th, tỉnh Hải Dương.

Hiên ở: Thôn B, xã Đ, huyện Th, tỉnh Hải Dương. (có mặt)

2. Anh Nguyễn Văn L , sinh ngày 15/8/1984.

Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Đội 8, thôn L, xã T, huyện Th, tỉnh Hải Dương. (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Hiện cư trú tại: Đài Trung – Đài Loan.

Người đại diện theo ủy quyền của anh L: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1958.

1

Địa chỉ: Đội 8, thôn L, xã T, huyện Th, tỉnh Hải Dương.(có mặt)

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con chung.!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, quan điểm của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn L hiện lao động tại Đài Loan nên việc hôn nhân gia đình (Viết tắt HNGĐ) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng đân sự

( Viết tắt: BLTTDS). Anh L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và có văn bản ủy quyền cho ông Nguyễn Văn V. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt anh Nguyễn Văn L.

[2]. Về nội dung:

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai của chị Nguyễn Thị Thúy H là người yêu cầu trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 19/11/2008 tại UBND xã T, huyện Th , tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình nhà chồng tại thôn L, xã T. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do năm 2015 hai vợ chồng chị cùng đi xuất khẩu lao động nước ngoài, chị đi Nhật, anh L đi Đài Loan, số tiền đi xuất khẩu lao động của hai vợ chồng do bố chồng chị vay mượn để lo cho. Khi sang Nhật chị cũng đã tích góp tiền để gửi về cho bố chồng để trả nợ, tuy nhiên anh L thường xuyên thúc giục chị gửi tiền về nên hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau và không quan tâm đến nhau. Đến tháng 11/2018 chị hết hợp đồng về nước, chị nhận thấy không còn tình cảm với anh L nên làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết ly hôn với anh L.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 11/9/2009, Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 22/10/2011, Nguyễn Như Ý, sinh ngày 25/6/2013. Hiện cháu L1 đang sống với chị, cháu B và cháu Như Ý sống cùng ông Nguyễn Văn V ( bố đẻ anh L). Ly hôn chị và anh L thỏa thuận chị nuôi cháu L1 và anh L nuôi cháu B và cháu Như Ý. Về cấp dưỡng nuôi con chị và anh L đã tự thỏa thuận.

Về lệ phí HNGĐ chị tự nguyện chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.

Tại đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 12/11/2008.

2

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc. Sau này do cuộc sống hôn nhân cả hai đều không thấy hòa hợp, không có tiếng nói chung , bất đồng về quan điểm sống và về kinh tế, cả hai đều chọn giải pháp ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết.

Về con chung: anh đề nghị được nuôi hai con là Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 22/10/2011, Nguyễn Như Y, sinh ngày 25/6/2013. Chị H nuôi con Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 11/9/2009. Về cấp dưỡng nuôi con anh và chị H đã tự thỏa thuận.

Do anh L đang sống tại Đài Loan nên anh đã ủy quyền cho ông Vóc trực tiếp nuôi dưỡng hai con cho đến khi anh về nước. Ông V nhất trí với đề nghị của anh L.

Về chi phí giám định: Anh L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và người yêu cầu theo quy định của BLTTDS. Về quan điểm giải quyết: Áp dụng Điều 55, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367, 368 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của UB thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Văn L. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 11/9/2009 cho chị Nguyễn Thị Thúy H nuôi dưỡng kể từ tháng 11/2019 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Giao con chung Nguyễn Hoàng Bảo, sinh ngày 22/10/2011 và Nguyễn Như Y, sinh ngày 25/6/2013 cho anh Nguyễn Văn L nuôi dưỡng đế khi con chung tròn 18 tuổi.

Về lệ phí: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ nên cần chấp nhận. Về chi phí giám định: Anh L tự nguyện chịu toàn bộ nên cần chấp nhận.

Xét thấy, thỏa thuận giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Văn L về Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con chung là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của hai con L1 và Hoàng B. Nên Tòa án công nhận sự thỏa thuận này. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H chịu toàn bộ lệ phí HNGĐ. Về chi phí giám định: Chấp nhận sự tự nguyện của anh L chịu toàn bộ chi phí giám định.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT!ĐỊNH:

1.Áp dụng Điều 55, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367, 368

3

của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của UB thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Văn L.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc L1, sinh ngày 11/9/2009 cho chị Nguyễn Thị Thúy H nuôi dưỡng kể từ tháng 11/2019 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Giao con chung Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 22/10/2011 và Nguyễn Như Y, sinh ngày 25/6/2013 cho anh Nguyễn Văn L nuôi dưỡng đế khi con chung tròn 18 tuổi. Chị H và anh L đã tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con.

Chị H và anh L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

2. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm được trừ số tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai thu số AA/2017/0009557 ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh L tự nguyện chịu 4.000.000đồng chi phí giám định ( đã nộp).

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 22/11/2019./.

Cỡ chữ