- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Mỹ H, Trần T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 65/2018/QĐST-VHNGĐ | Tiền Giang, ngày 27 tháng 12 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lưu Thị Sum.
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên, Thư ký Tòa án-Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Ông Huỳnh Văn Hoàng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 48/2018/TLST-VHNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 20/2018/QĐST-VHNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Bà Vũ Thị Mỹ H, sinh năm 1978 (Có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: số 143/5, Đ, phường B, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Ông Trần T, sinh năm 1966 (Có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: 1324 G BL USA.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Vũ Thị Mỹ H và ông T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 313 ngày 16/12/2010. Sau thời gian chung sống tình cảm vợ chồng không hợp nhau về phong tục, tạp quán của hai nước, dù đã cố gắng khắc phục nhưng rồi cũng không phù hợp nên tình cảm từ đó cũng phai nhạt. Nhận thấy mối quan hệ vợ chồng của ông bà không còn được như trước, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận hạnh phúc bền vững không đạt được nên thống nhất ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về lệ phí: Bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T thỏa thuận bà Vũ Thị Mỹ H có nghĩa vụ nộp.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến: Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và đương sự từ khi thụ lý cho đến phiên họp giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T có đăng ký kết hôn năm 2010 nên hôn nhân hợp pháp. Do bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T không hợp với nhau về phong tục, tạp quán của hai nước, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nay bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T thống nhất ly hôn là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T về việc thuận tình ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Xác định đây là yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, căn cứ khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
[2] Về tố tụng: Bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu của bà Vũ Thị Mỹ H, ông Trần T, nhận thấy: Bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 313 ngày 16/12/2010, là hôn nhân hợp pháp nên được xem xét giải quyết theo Luật Hôn nhân và gia đình quy định. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, ông Trần T và bà Vũ Thị Mỹ H mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp, tình cảm vợ chồng không còn dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Trần T và bà Vũ Thị Mỹ H là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại các Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung ông bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Về lệ phí Tòa án: Bà Vũ Thị Mỹ H phải nộp 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 khoản 2 Điều 149, Điều 361, khoản 2 Điều 367, 369, 370, 371, 396, 397 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, 55, 57 và khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận bà Vũ Thị Mỹ H và ông Trần T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Lệ phí sơ thẩm: Bà Vũ Thị Mỹ H có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng số 00721 ngày 30/11/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Người yêu cầu; - Cục THADS tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - UBND tỉnh Tiền Giang; - UBND phường B, thành phố M; - Lưu án văn, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lưu Thị Sum |